AO XƯA
I
Một người bạn là nghệ sĩ nhiếp ảnh
nhân một chuyến về chơi quê tôi, sau khi tranh thủ đi tham quan một vài khu làng
cổ đã bày tỏ ước muốn được chụp hình phong cảnh một ao làng xa xưa sao cho ao vẫn
còn nguyên vẹn bờ tre, khóm trúc, cầu ao, hoặc có thể thì chỉ dẫn giúp để anh
xem một cái ao của người Chàm. Tôi cười buồn bảo nếu anh muốn tìm một ao làng
thì may ra còn có, riêng ao người Chàm (anh dứt khoát gọi là ao Bà Tranh) thì
chắc phải vào tận Ninh Thuận chứ ở quê tôi ngày xưa có mấy cái ao Chàm, về sau,
cải tạo mặt bằng, giải phóng đất, xe máy ủi san phẳng tất cả. Công việc giải
phóng mặt bằng, cải tạo đất đai, quy hoạch nông thôn xảy ra trước việc bảo tồn
các giá trị văn hoá lâu đời trong đó không chỉ cái ao Bà Tranh và cả cái ao nhà
của mỗi gia đình.
Ký ức tôi vẫn chưa phai mờ hình ảnh
cái ao Bà Tranh nằm cách ngôi nhà của cha mẹ tôi bây giờ chừng 300m. Đó là ao cổ
của người Chàm nằm tách biệt, tiếp giáp cánh đồng và con đường nhỏ bìa làng, phủ
đầy rêu xanh theo thời gian vẫn không làm nước trong ao vẩn đục dù năm nào cũng
có nhiều trận lũ đi qua. Lòng ao nhỏ, đáy ao sâu hút, hình dạng khó nhớ vì sự thay đổi và bồi lấp
qua hàng mấy trăm năm. Tôi không hiểu sao cha ông gọi ao Chàm là ao Bà Tranh.
Vua chúa Chiêm Thành từ suốt chiều dài lịch sử dân tộc họ phải đến hàng trăm vị.
Bà Tranh là vị chúa Chiêm đồng thời với tướng Nguyễn Hữu Cảnh và bị Nguyễn Hữu
Cảnh đánh bại vào năm 1693, và lãnh thổ dân tộc Chàm dưới thời Bà Tranh bị thu
hẹp vào tận Phú Yên, Ninh Hòa, Long Khánh, Phan Rang,… ngày nay.
Cái ao Bà Tranh ở quê tôi chắc có
trước thời Nguyễn Hữu Cảnh. Hầu như người dân quê tôi chẳng bao giờ sử dụng nước
ở ao Bà Tranh, nhưng các cậu bé thường ra ao câu cá. Ao nhỏ, trên bờ có lát nhiều
viên gạch Chàm cổ, đó là những gạch đá có tự ngàn năm xưa, cái gì ở ao cũng thuộc
đồ tối cổ, cỏ vẫn phủ kín bờ. Chỗ này ngày xưa chắc có những đôi trai gái tự tình,
những ông Chiêm, bà Hời vẫn sinh con, đẻ cháu, mà về sau trên vài khu mồ hoang
tịch, những cái bình vôi, mỗi cái mảnh sành,… đều như những bóng ma tái hiện những
hình hài cổ xưa. Vô ích đi tìm lời giải
bí mật của một dân tộc trong lòng ao sâu. Nhưng từ đời ông bà, đến đời cha mẹ tôi,
hễ cái gì của người Chàm (người quê tôi vẫn gọi là người Hời), đều được người đời
kiêng kỵ, dù đó chỉ là cái ao. Những buổi trưa đứng bóng, nắng tràn qua ao như đổ
lửa, không người nào dám lảng vảng gần ao Chàm. Chuyện san lấp, cào bằng, đập
phá làm biếng dạng những ao Chàm là về sau, thuộc những thế hệ thiếu cung kính…
Anh bạn nghệ sĩ nhiếp ảnh muốn
tôi kể chi tiết hơn về ao Bà Tranh xưa nhưng rồi tôi đành chịu. Bấy nhiêu đó mới chỉ là hình thức, những bí ẩn
trong lòng ao đã bị chôn vùi với bao dâu bể. Những viên gạch màu phù sa như gương
mặt nát nhàu, bạc thếch hằn lên nỗi tủi sầu thiên cổ cũng không còn. Riêng ao
làng thì ít nhất trên cánh đồng quê vẫn còn sót lại đâu chừng vài ao nước nhỏ.
Nhưng hỡi ôi, nó chỉ là vũng nước nông, đâu rồi chiếc ao xưa của gia đình tôi,
với những bụi tre che mát hai bờ, rẻo cát trắng mịn màng mà chúng tôi có thể
lăn lê bò toài trên đó. Hồi nhỏ, cái ao nhà là nơi gia đình chúng tôi tha hồ
khai thác nguồn thuỷ lợi và đánh bắt cá. Anh em chúng tôi vẫn thường đi tắm ao
hoặc tát nước vào ruộng từ ao bằng gàu trước khi cha mẹ tôi có đủ tiền sắm máy
xăng bơm nước tưới ruộng. Không biết từ đâu trong chị em chúng tôi hình thành
cái ý thức sở hữu là những khi có ai đó tự ý đến tát nước ruộng từ ao mình là bị
chúng tôi la, mắng, không cho phép, dù nước trong ao tát cạn rồi lại đầy.
Cái ao nhà với chiếc cầu xinh xinh đi qua mưa
nắng, tháng năm gợi tôi nhớ lại bốn câu thơ của Hồ Dzếnh:
“Chị tôi
giặt lụa cầu ao
Trời
trong, nắng ửng má đào ghẹo duyên
Tôi
say nước thắm, mây huyền
Nước
mơ dáng cũ, mây truyền tiếng xưa…”
….
Bây giờ, ngay cả vị trí của ao nhà xưa trên
cánh đồng bao la tôi cũng không xác định nổi. Tôi chỉ nhớ ngày ấy ao nhiều lắm,
hình như nhà nào cũng dành một vuông đất để đào riêng một cái ao. Ao, vườn và
nhà đã tạo nên một cảnh quan đặc biệt ở thôn quê. Trên bờ ao thường được trồng
tre. Bóng cây che mặt nước làm cho nước ao luôn mát mẻ, một phần mặt ao thường
được thả bèo, thả rau muống. Ao thường được sở hữu bởi
từng gia đình hoặc một số gia đình sống gần nhau đào chung một ao. Cũng có những
ao công cộng như ao của các chi họ, ao xóm, ao chùa. Người dân quê tôi chủ yếu
đào ao để lấy nước tưới ruộng. Thường những khi ao được tát cạn người ta kéo
nhau xuống ao bắt cá, vào những lúc đó, người ta cũng thường vét ao để cho bớt
bùn đọng. Nhiều nơi có nhiều hệ thống ao được nối với nhau bằng những cống
thông làm cho nước ao được lưu thông. Ao tù nước đọng là nơi bẩn thỉu tập trung
các nguồn nước bẩn, ruồi muỗi sinh sôi nên không được sử dụng, mà cần phải cải
tạo để giữ ruộng đồng, làng quê được sạch sẽ.
Mỗi khi trời mưa to, nước trong
làng lại chảy xuống ao làm cho đường làng phong quang không bị úng ngập lầy lội.
Ở một số gia đình, nước thải sinh hoạt sau khi thấm qua mặt đất vườn tược rồi lại
ngấm qua ao.
Ngoài các loại ao thông thường,
còn có một số ao đặc biệt như ao chùa là ao thuộc nhà chùa. Ao này ngoài chức
năng thông thường nhằm phục vụ sinh hoạt của sư sãi trong chùa nó còn là phần
kiến trúc không thể thiếu của mỗi chùa theo luật phong thủy cổ truyền mỗi khi dựng
bất cứ một ngôi chùa nào. Ao chùa đôi khi cũng trồng thả những cây quý như sen
súng tạo nên một vẻ đẹp đặc biệt của kiến trúc phong cảnh đền chùa. Nông thôn
hiện đại với hệ thống kênh mương được kiên cố bằng bê tông, nguồn thủy lợi dồi
dào, nhờ đó người nông dân không còn phải vất vả gàu giai, gàu sồng những trưa
nắng chang chang cũng như đêm trăng sáng, hoặc tối trơi nhưng cũng theo đó,
hình ảnh ao làng đã đi vào thời xa vắng.
LÊ
THU THÙY
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét