Danh sách Blog của Tôi

Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2018

TẠP GHI


NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI

Năm xưa học phổ thông, từng là học sinh giỏi văn quốc gia, có 1 ông thầy dạy văn hay nhất trên đời này, năm nào đội tuyển học sinh giỏi văn của thầy không có học sinh giỏi quốc gia cũng có học sin đoạt giải hsg văn toàn tỉnh (Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ).
Hồi đó mình trọ học trong chùa Ân Triêm của thầy Thích hạnh Trí . Cùng lớp mình học có Thành Tân, anh chàng này học tạm tạm thôi, nhưng anh có chị ruột là chị Chung, trước mình 3 năm, cũng từng trọ học trong chùa Ân Triêm, chị học giỏi lừng lẫy nhưng học hết 12, chị xuất gia luôn. Có lần mình nghe anh H. bạn học cùng lớp chị, kể rằng, chị bị 1 gã đàn ông săn đuổi, năm ấy chị hãy còn là đứa bé vậy mà y săn đuổi đến mức chị sợ, chị vào chùa trọ học, không dám về nhà vì sợ cái con đực biến thái, bệnh hoạn, đần độn độc ác thú vật là dâm đãng ấy. Học xong lớp 12 chị xuất gia, xuống chùa sư nữ cạo trọc, ngày anh bạn thấy chị, chỉ mình xem, anh biểu mình gọi chị bằng cô (cô Chung), nhưng mình không chào hỏi cô này, cô không phải người cởi mở, anh H. nói cô rất uyên bác thông tuệ, và có căn tu.
Đó là hồi ở chùa, về sau mình không gặp lại anh H. cũng như mấy người quen ở chùa ấy. Ngày đó phải ngàn phật tử trong vùng về chùa, mình sống trong chùa, mọi thứ thật tuyệt với.
Lẽ ra mình xuất gia, nhưng thầy Hạnh Trí cũng như cô Chung, lúc nào cũng im lặng, mình chơi với Hưởng, cháu gọi thầy bằng bác ruột, cả chị Ảnh chị ruột của Hưởng, Hưởng sau này cũng xuất gia, đau nặng chùa trả về, về sau về ĐL sống với cha mẹ, bệnh nặng, không biết còn sống đến ngày hôm nay không?
Mình không xuất gia chỉ vì học sinh giỏi văn, lừng lẫy, được thầy kì vọng sẽ là nhà văn lớn, sẽ lừng lẫy trên văn đàn, mình đã ở chùa, đã kinh hoàng 1 thứ địa ngục gia đình, vẫn còn lâm lụy với cái nghề viết, đi học văn chương.
Ỡ Huế, ở Hà Nội, các trường ĐH không ai dạy cái thứ văn chương mà mình được thầy giáo ở quê dạy. Không phải ông thầy vĩ đại ấy, mình đã học nghề kim hoàn như mẹ muốn, hoặc xuất gia...
Nhưng đã theo nghề viết, mới 19, 20 đã có thơ xuất bản, truyện in báo, và còn đi học đã ráng viết kiếm sống.
Lẽ ra đã thất vọng giảng đường ĐH, mửa luôn về, học nghề khác, như nghề thuốc bắc chẳng hạn
Phải đến khi mẹ đau nặng, ra nhà ông Phạm Ngọc Cảnh Nam hỏi học nghề đông y, thuốc bắc, ông chê mình lớn quá, mới ngày nào ông vào nhà, thấy mình còn nhỏ chút, vậy mà đến thời điểm ra nhà ông hỏi nghề thuốc, học nghề, ông bảo mình lớn quá, đàn ông lớn chút học nghề thuốc còn được, đàn bà nên làm nghề khác...
Con làm nghề khác đó chu ạ, cái nghề viết mà chú không kiếm ra tiền phải đi học nghề thuôc và sống bằng nghề ấy mấy mươi năm nay.
Lại nói về ông thầy vĩ đại, ông dạy lớp chuyên giỏi văn của mình là năm cuối cùng, năm ấy ông bỏ dạy.
Trên cương vị nhà giáo, ông là thầy giáo vị đại, nhưng thầy và ông hiệu trưởng ghét nhau, thầy bỏ dạy, đi phụ xe, đi buôn gạo, đi dệt... tất nhiên là với cha vợ và vợ, và thầy chịu cái nạn là miếng dẻ rách chứ không phải là nhà giáo vĩ đại..
phải 5 năm sau, Trường Trung Học Nguyễn Hiền được thành lập. Một người thầy của thầy về làm hiệu trưởng, vốn yêu đứa học trò là nhà giáo lừng lẫy, ông hiệu trưởng kêu thầy về trường thầy dạy. Trường bây giờ không có học sinh giỏi văn, nhưng cái nghề văn oan khốc, oan nghiệt, tụi học trò dốt văn chẳng đứa nào chết, thầy dạy hay, về dạy để trường được tiếng...
Ông thầy vĩ đại về dạy trường Ng. Hiền, học sinh dốt văn, xếp hàng, đến chật nhà, lạy thầy dạy thêm,...
dạy thêm thì có tiền
Bây giờ về nhà thầy, nhìn cơ ngơi của ông giáo có được từ nghề dạy học, phải khen ông thầy vĩ đại.

                                                LÊ THU THÙY
lt


TẠP GHI

NAM NHI ĐẠI TRƯỢNG PHU

Nói cho hay: trong thiền có 1 thứ, chẳng khác trong truyện/ phim kiếm hiệp. Thằng nào muốn thành vô địch võ lâm (hoặc vô địch văn đàn, vô địch chém gió, vô địch MMO... chẳng hạn, thậm chí, vô địch tốc độ, một khi thiền hoặc luyện thứ có, có khả năng thành công sẽ vô địch, nhưng để tập luyện mà phăng teo cái tư cách nam nhi đại trượng phu, thì sau khi luyện thành, đàn ông sẽ biến thái tinh thần thành đàn bà.
DẪN ĐAO TỰ CUNG
Tịch tà kiếm phổ hay còn gọi là Quỳ Hoa bảo điển là một môn võ công của Phái Thiếu Lâm, người học môn võ này trước hết phải dẫn đao tự cung (tự thiến dái, cắt phăng hòn dái hay phăng teo con cặt) cũng là 1, là chiêu tuyệt đối của Tịch Tà kiếm phổ
Thằng nào học võ nhà chùa thèm một tinh thần tối thượng, kiểu khí công tối thượng của Bồ Đề Đạt Ma, thằng đó sẽ phăng teo cái Tư cách đại trượng phu của mình trước nhật, cuối cùng khi biến thái thành 1 con đàn bà, đĩ thõa, bệnh hoạn, ác quỷ, săn đầu người, thì kẻ đó, hoặc thành con yêu quái, con bạch cốt tinh, con đĩ, như Đông Phương Bất bại, một con ma cà rồng như Nhạc bất quần (giết người như ngóe), hoặc một tên diệt chủng Như Lâm Bình Chi (Trả thù cho cha mẹ mà đàn bà con nít con gà, con lợn của phái Thanh Thành bị y giết không chừa một mống)...Hoặc thành con chằn tinh săn đầu người như Tả Lãnh Thiền, luyện sai Tịch Tà kiếm phổ trổ ta cái thủ đoạn lừa hết cao thủ võ lâm vào hang động, rồi lấp hang, giết sạch sành sanh.
....
Nhậm Ngã Hành, giáo chủ của Nhật Nguyệt thần giáo, bị xem là tà giáo, nhưng khi nắm trong tay Tịch Tà Kiếm phổ, ông ta không bận tâm đến nó, con gái ông ta còn nhỏ, mới ngây thơ hỏi cha:
- Sao cha không luyện Quỳ Hoa bảo điển để vô địch thiên hạ mà đưa cho Đông Phương Thúc thúc luyện(chú ấy luyện).
Nhậm ngã Hành cười ha hả:
- Ta đường đường là đấng nam nhi mà đi thiến dái để luyện Quỳ hoa bảo điển!
Nhậm Ngã Hành còn sáng tạo ra môn hấp tinh đại pháp - Đéo biết...
Theo con, đàn ông tập bát nhã khí công hay cái quái quỷ gọi là Chánh Pháp, từ thuở Đức phật khai môn, đã bị lừa, để trở thành một thằng thái giám... và giết người, săn đầu người, diệt chủng không gớm tay.
LTT
P/s:
Trong số những học trò của thầy Thích Hanh T., có 1 chị bây giờ đã là sư cô, trụ trì chùa kia, sư cô này và Lê Thu Thùy, và thầy dạy văn của LTT ngày xưa là NKC... cùng là học trò của Thầy Thích Hạnh T.
Nhưng thầy NKC đi sâu vào ngành sư phạm trở thành 1 nhà giáo lỗi lạc, còn một chị xuất gia, trở thành 1 sư cô uyên thâm phật học, riêng LTT làm văn chương đích thực.
Một thằng điếm già, đố kị với LTT giành hơn cho vợ hắn, khi kiếm ra thầy NKC, chúng rủ thầy đến chùa của hòa thượng Thích Hạnh T, chúng nhờ thầy NKC hỏi thầy Thích Hạnh T.,
-Ai là học trò giỏi nhất của thầy:
Hòa thượng Thích Hạnh T. trà lời:
- Cô C. là học trò giỏi nhất của tôi.
Thầy NKC hỏi tiếp:
-Vậy Lê Thu Thùy thế nào?
Thây Thích Hạnh T. đáp:
- Lê Thu Thùy là học trò giỏi nhất của nhà giáo NKC.
....
Một sư cô dạy thiền LTT khải thị rằng:
- Chúng ta là phụ nữ về hình hài, nhưng tu thiền học đạo, chúng ta phải là những nam nhi, đại trượng phu. Học trò của sư cô yêu cô vì cái khí chất Nam nhi đại trượng phu....LTT đừng làm 1 thằng chém gió mà phải tỏ bản lĩnh của Nam nhi đại trượng phu
                                                          LÊ THU THÙY

TRUYỆN NGẮN


NHỮNG DẤU CHÂN MỜ XA
                                          Lê thu Thùy    
                          
Ký ức như mũi dao nhất là những khi nhìn vào tấm ảnh trên bàn thờ người chồng đầu quá cố, tôi như thấy một bàn tay vô hình rạch từng nhát giải phẫu những ung nhọt trong lòng mình. Nghĩ về người mình yêu bỗng nhiên tôi hiểu là mình đã không còn một ý niệm nào về cuộc tình với Biền khi đi qua tuổi bốn mươi. Tình yêu mà đứa con trai nhỏ mong đợi ở tôi là cái người nó gọi là cha sẽ mãi là chồng tôi, thế nhưng đó là sự đổi dạ thay lòng mà mọi ảo tưởng về đức hạnh và lòng thủy chung của bản thân và ngụy tạo đều không đủ để tôi biện hộ cho mình. Một bài thơ Biền viết cho vợ sau li hôn có câu “anh yêu em! Anh làm thơ ca ngợi sắc đẹp trời cho hơ hớ!..(*)bạn bè anh đều khen đây là câu thơ hay nhất trong nền thơ ca hậu hiện đại Việt Nam. Khen câu thơ của anh như thế khác nào chửi tôi.
Sự phản bội bắt đầu từ khi tôi thèm khát được nằm trong lòng người đàn ông không phải là Biền trong đêm chàng bị kẹt ở miền Trung vì ngoài ấy bão lớn. Chàng đã hẹn là sẽ về kịp trong ngày sinh nhật vợ. Tôi chuẩn bị cho bữa tiệc sinh nhật khá đơn sơ nhưng không thiếu rượu và hoa. Ngày hôm đó trời mưa tầm tã. Sài Gòn có giông ở vài nơi. Mười giờ đêm gió mỗi lúc một to. Bão tận miền Trung không làm mất không khí ngày sinh nhật. Khi người bạn gái thân nhất dứt khoát không cho phép Tiến đưa về anh ta sa sầm làm tôi thấy tội nghiệp. Bàn tiệc thiu dần. Tiến ở lại với tôi đêm đó. Gần mười giờ đêm Biền gọi từ Đà Nẵng vào cho biết máy bay không cất cánh nổi vì bão quá to. Đường dây điện thoại bị đứt gần một ngày mới được nối lại. Nhà của mẹ anh ở quê bị bão tố tốc mái. Đường sá cây cối đổ ngổn ngang, hàng chục vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Chàng phải ra biển quay phim vì có tàu đắm. Bạn bè ở các đài truyền hình khắp miền Trung đều lao vào công việc. Chậm nhất là 3 ngày nữa chàng sẽ về tới nhà. Chàng hết tiền phải mua vé bay giá rẻ nên về hơi muộn. Chàng mong tôi đừng lo lắng nhiều.
Tôi nghe điện thoại của Biền khi Tiến đến ngồi bên cạnh. Sấm sét rền vang bầu trời thành phố. Hơi thở đượm mùi rượu của người đàn ông không phải là chồng trong đêm mưa gió và người chồng đang kẹt trong cơn bão làm tôi quay quắt. Nhưng điều đó không đến quá nhanh. Con trai tôi đang ngủ trong phòng. Tiến kêu “buồn lắm!” và hỏi tôi muốn gì không? Tôi đang muốn xem một bộ phim sex nhưng trả lời Tiến là muốn có thật nhiều tiền. Tôi thích được cùng Biền chu du khắp Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc. Khắp Việt Nam này tỉnh thành nào cũng in dấu chân Biền. Chàng đi nhiều bao nhiêu lòng tôi càng trống trải bấy nhiêu. Lần đó, Tiến lấp vào chỗ trống trong lòng tôi giữa cơn bão ngoài quê. 
Lưỡi dao vô hình cứ khoét mãi vào hồi ức yêu đương khiến tôi day dứt. Nhiều lần gục trên ngực Tiến nhưng tôi lại như thấy Biền ôm tôi trong tay, giọng Biền nồng nàn:
-        Anh chỉ muốn em là duy nhất của anh. Mình nghèo quá! Anh hối tiếc suốt đời đã không đưa em về quê sống. Anh chỉ là một con thiêu thân giữa đất Sài Gòn này.
          Tôi nhìn làn da nâu tái của chàng. Gương mặt chàng sạm đi và ánh mắt càng trầm mặc. Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau khi Biền đang tìm người để chọn vào một vai diễn trong bộ phim của một việt kiều đạo diễn mà Biền là trợ lý. Hôm đó tôi đến thử vai khi xem thông báo tuyển dụng. Biền nhìn tôi thật lâu. Ngay giây phút ấy tôi nghe lòng mình rung động. Biền nói rất ấn tượng về quê quán của tôi. Thì ra chúng tôi cùng quê với nhau. Tôi xa quê hồi mới lên năm, nhưng ngoài quê nhà chúng tôi gần nhau lắm. Lần đó tôi quá thất vọng vì không hợp vai diễn Biền chọn. Nhưng Biền ghi số điện thoại của tôi, hẹn sẽ gọi lại.
          Ba ngày sau tôi run lên khi nghe điện thoại của Biền từ một nơi rất xa. Hai chúng tôi hẹn đi chơi với nhau vào cuối tuần. Sau một tháng tôi yêu Biền điên cuồng. Tuần nào tôi cũng đến chỗ Biền. Hễ chàng đi công tác là tôi mong đợi, tính đếm từng ngày. Lần nào tôi cũng tiễn đưa và ra sân bay đón chàng trở về trong mối ngờ vực vì không khỏi xót xa, tủi hờn khi nghĩ rằng chàng biết tôi yêu chàng nên sẽ lợi dụng tình cảm này.
 Anh ruột tôi có lần bảo Biền nhìn vậy chứ không có tiền. Làm phim với anh chàng đạo diễn việt kiều Pháp nhưng thù lao, lương bổng chẳng bao nhiêu. Hơn nữa, bộ phim thành công hay thất bại thì anh chàng đạo diễn cũng quay lại Pháp. Sớm muộn Biền cũng bị anh ta bỏ rơi.
Tôi bỏ ngoài tai những điều ông anh ruột nói. Biền viết gì cũng hết sức sắc sảo, thâm thúy và thông minh. Những người tài như Biền ở đâu không cần. Tôi biết anh trai tôi lo lắng khi tôi yêu một người đàn ông mà sự nghiệp bấp bênh thì hôn nhân sẽ trên bờ vực thẳm. Nhưng ngay anh ruột tôi cũng chấp nhận Biền, anh còn biết rõ một người bạn giàu có của anh là Tiến cũng muốn cưới tôi. Anh còn cười với Biền rằng phụ nữ đẹp ai không yêu say đắm!

Ngày trước, tôi luôn hãnh diện Tiến yêu tôi đến mù quáng cho dù tôi đang là vợ Biền và tôi quá sức thỏa mãn bởi tình yêu của anh ta. Tôi có con với Biền anh ta cũng không một chút hờn ghen.
          Về sau Tiến lý sự tỉnh queo: “Em không yêu anh thì đã không gian díu và dám bỏ tất cả để làm vợ anh! Yêu đơn giản thôi. Em về sống với anh, vì yêu em, anh tha thứ tất cả!”
          Anh ruột tôi cười vào mũi Tiến:
-        Ông đã dẫn truyền vào lòng Trang một thứ gì năng lượng gì đó gây ra những xung năng, xung động tính dục thì phải!
          Tiến cười ha hả:
-        Tôi không có tình nhân đâu anh ạ! Vậy nên khi tôi yêu một người phụ nữ, cô ấy không còn yêu ai tất cô ấy biết rõ tôi yêu cô ấy.
          Anh ruột tôi đã không thể nào tin Tiến không có một người tình. Còn tôi chẳng bao giờ xấu hổ mình là một mụ đàn bà đa đoan, có đến mấy chồng. Tôi yêu Biền và điều đó làm tôi mơ hồ nhận ra mình dại dột hơn đứa con trai của chúng tôi. Có một thời tôi bất chấp lời ong tiếng ve. Tôi mê man trên giường tình làm người đàn bà lăng loàn mấy năm ròng và khi tỉnh cũng như mê tôi thấy hình như có một con điên cựa quậy trong lòng. Tôi không còn là chính mình, rồi ngày càng xa cách đứa con trai nhỏ, khi con trai càng lớn thì tôi càng ít quan tâm đến nó. Có lần con trai tôi bảo rằng:
-        Tại mẹ không biết mẹ hư mới nông nổi đó!
          Biền tin chắc rồi đây con trai khôn lớn, ngày kia nó có trách nhiệm phụng dưỡng cha, còn tôi thì không biết con của mình lớn lên nó sẽ nghĩ sao về cha mẹ. Rủi thay, con trai tôi mồ côi cha quá sớm.

          Kỷ niệm cuối cùng về Biền gắn với căn phòng như chiếc hộp diêm nằm khuất trong hẻm sâu, nơi Biền đã vật vã trong những cơn đau dài và nhiều tháng liền chàng ho ra máu, tôi đã trốn Tiến đến thăm chàng. Vào một ngày nắng đẹp, Biền trông có vẻ hồng hào hơn mọi ngày, chàng đang đọc một cuốn tiểu thuyết của Orhan Pamuk, chàng nói với tôi về thi sĩ Ka, tên nhân vật chính trong tiểu thuyết TUYẾT mà chàng đang đọc: Ka yêu một phụ nữ tuyệt sắc dẫn đến cuộc mưu hại người tình cũ của ý trung nhân và ông không bao giờ được người yêu tha thứ. Nàng không thể nào tiếp tục yêu ông như ông chờ đợi, và mối tình tuyệt vọng của Ka đẹp đến choáng ngợp Biền.
          Giọng Biền âu yếm nhưng tinh ý sẽ biết chàng đểu kinh khủng:
-        Đám tang anh em phải trang điểm thật đẹp vào và xin phép chồng em cho em đưa tiễn anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Anh lúc nào cũng muốn thấy em đẹp. Nhớ là không được khóc dù là cố tình.
          Tôi đã hứa với Biền là sẽ chiều đẹp chàng. Đó là lời hứa ngu xuẩn nhất chỉ vì tôi tưởng chàng sắp khỏi bệnh. Tôi chẳng bao giờ ngờ được là chỉ hai tháng sau cái ngày nắng đẹp đó Biền giã từ cõi đời.
          Trong đám tang tôi vô cùng mỏi mệt. Mẹ Biền áo xô trắng vật vã bên quan tài con trai. Linh cữu của Biền được đưa về an táng nơi nghĩa trang quê nhà. Có đến hàng ngàn người đưa tiễn. Tôi nhận ra một người con gái trẻ tên Hòa, chơi thân với Biền như em gái thỉnh thoảng nhìn tôi lắc đầu. Tôi đã đeo mạng che mặt nhưng cô gái vẫn chăm chăm nhìn tôi. Cô nàng cũng mắc bệnh và cứ đau đau hơn mười năm. Có lần cô vào Sài Gòn chữa bệnh, cô gọi điện thoại đến Biền hỏi vay chút ít tiền. 
Hôm đó Biền và tôi đang ăn tối cùng con trai. Biền bảo tôi:
-        Em còn tiền cho Hòa một triệu, nó đi chữa bệnh và đang cần tiền. Anh chỉ còn mấy chục ngàn, lúc nó cần mà không giúp, nhỡ vài bữa nữa nó chết mình sẽ ân hận suốt đời.
          Thế nhưng người chết không phải Hòa mà là Biền, bữa đó tôi chỉ có thể cho Hòa nửa triệu, chúng tôi mời cô dùng bữa tối. Suốt bữa ăn cô hầu như không nói gì. Biền cho biết Hòa là nhà văn. Cô nhỏ hơn anh gần mười tuổi, sống và viết ở quê nhà. Bệnh nặng mới vào Sài Gòn điều trị.
-        Bệnh gì? Tôi hỏi.
-        U não! Vừa đi du học thì bệnh phát. Phải bỏ học về Hà Nội mổ. Ca mổ thành công nhưng vẫn cứ đau nhức đầu kinh niên.
          Biền có vẻ không hài lòng Hòa vì một chọn lựa mà chàng xem là dại dột khi Hòa kết hôn rồi lại li hôn ở cái tuổi quá trẻ. Nhưng tôi và chàng chưa bao giờ sai lầm hay sao?
-        Anh không bao giờ tha thứ ai, chỉ tha thứ mình!
          Biền thường cười vậy. Biền còn bảo chồng Hòa như cái mền rách lại không thiếu đàn bà con gái mê như điếu đổ. Hòa trông cậy gì nổi ở những thằng người loại đó.

          Hai mươi tuổi tôi biết yêu, Biền là mối tình đầu của tôi. Yêu gần ba năm tôi có thai, chúng tôi ra phường đăng kí kết hôn. Tôi bỏ công việc của một diễn viên điện ảnh nghiệp dư chuyển hẳn sang nghề cắt tóc, trang điểm, chăm sóc sắc đẹp… sau khi sinh đứa con trai đầu lòng. Năm năm sau ngôi nhà của tôi trở thành một mĩ viện nhỏ. Rồi Tiến, ông khách si tình thích được tôi chăm sóc ngày nào cũng đến nhờ tôi chăm chút bề ngoài anh ta. Hồi tôi chưa chồng Tiến đeo đuổi tôi nhưng ý tứ và nhút nhát khi thấy tôi lạnh nhạt. Bây giờ thì lửa gần rơm. Tiến ngồi hoài trong tiệm của tôi và thanh toán tiền nong một cách hào phóng.
          Biền là một nhà thơ, những chuyến đi vô định, không mục đích của Biền ngày càng thường xuyên, càng dài, càng tiêu tốn. Máu giang hồ cộng với thú lãng du của chồng làm tôi tổn thương không ít. Mỗi lần Biền về hai vợ chồng lại cãi nhau. Tiền bạc của tôi và chàng làm ra không đủ chi tiêu, chàng vay đây, mượn đó. Ông đạo diễn việt kiều về Pháp, Biền đi làm phim tài liệu và viết kịch bản truyền hình quanh năm. Khi biết tôi túng thiếu, Tiến sẵn sàng giúp đỡ và tôi ngày càng nợ nần, tôi cần tiền bao nhiêu ông dễ dãi bấy nhiêu. Tôi bắt đầu mừng rơn khi Biền vác máy đi khắp chân trời, góc biển. Đêm đêm Tiến ôm ấp tôi, rồi tôi sống như vợ chồng với Tiến trong nhà mình. Biền biết chuyện chửi tôi người đàn bà không có đạo đức. Chúng tôi li dị, sức khỏe chàng trở nên thất thường.
          Tiến cưới tôi. Cuộc hôn nhân lần thứ hai đem đến cho tôi bạc tiền và sự sung mãn. Tôi đã sắm ô tô và cơ ngơi ngày càng bề thế. Sau năm năm có hơn mười cô gái phụ việc nên tôi ra hẳn một bà chủ sang trọng. Bên chồng mới, những trang thơ của Biền như xác lá trôi sông.
          Rồi con trai báo tin Biền bị bệnh lao. Khi nghe tôi hỏi chàng bất cần: “Thời buổi này ai hơi đâu để ý đến mấy cái chứng ho lao, ho gà...” và chàng chủ quan thật, nhiều bữa ho ra máu chàng vẫn ngồi với bạn bè, tào lao về những kịch bản phim chàng viết xong nhưng chưa kịp chỉnh sữa gửi nhà đài. Chàng uống, say tràn cung mây. Chàng gọi tôi. Khi chỉ có hai người trên giường, chàng bảo là chàng sắp chết.
          Tôi đã trốn Tiến tìm đến với Biền ngày càng nhiều khi chàng trở về, kiệt sức sau những chuyến đi, cùng tôi im lặng nơi căn phòng khuất nẻo. Những bài thơ của chàng càng khó đọc. Tôi yêu Biền vì trách nhiệm với đứa con chung, với một một niềm thương cảm vì ăn năn. Có lần Biền nói về thi sĩ Ka. Biền gọi tôi “em yêu!” và bảo chàng cũng như Ka, chàng đã viết những tập thơ nơi quê hương lũ cuồng và bão tố. Lời cuối cùng Biền dành cho tôi là lời yêu thương, nhưng chàng không chắc mình không tự dối lòng. Điều ghê gớm hơn tình yêu và kịch độc khổ đau là sức tàn phá của những hội chứng nơi tâm can đã giết chết chàng trai suốt đời làm việc đầy lao lực.
          Tôi còn thấy đâu đó xác một con chim trời bị bão đánh treo lơ lửng trên đường dây điện cao thế trong một bài thơ mà Hòa viết tặng hương hồn Biền làm sửng sốt người đọc: “Anh giờ như dấu chân chim giữa  trời!”.
Notes:
(*) Thơ Nguyễn Trung Bình
                                      LÊ THU THÙY
                                                         

                                                                                              

NGHỆ THUẬT

NHỮNG TRANH VẼ PHÙ DU


đặc trưng của nghệ thuật chân chính là sự biểu hiện có chọn lọc những cái gì đẹp đẽ và loại bỏ những cái gì thô mạt và hạ phẩm như là chuyện đương nhiên. một khái niệm khác vốn cho rằng cái đẹp tuyệt đỉnh là cái đẹp thoáng qua, ngắn ngủi,… cùng với những thú vui tinh tế, dễ vỡ là thuộc tính của sự ưu nhã nhấn mạnh đến sự vô thường của cuộc đời.
nghệ thuật phù du (ephemeral art) được mô tả như là một loại hình nghệ thuật có giới hạn tuổi thọ, nó tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định để hoàn thành một mục đích cụ thể và sau đó bị phá huỷ hoặc dần dà mất đi. dù nỗ lực tìm mọi cách để giữ lại những tác phẩm ấy như bằng hình chụp in tem, in trên tiền và đưa vào làm mẫu trên các chất liệu khác như đan thêu, dệt thổ cẩm,… biến chúng thành các biểu tượng đặc trưng của nghệ thuật, chúng vẫn cứ là di sản văn hóa phi vật thể dễ mai một.
được xem là báu vật mong manh, tính chất phù du của tranh vẽ trên bãi biển khiến nó trở thành một bảo bối văn hóa ngắn ngủi nhất nhân lọai. những bức vẽ này nhanh chóng bị sóng biển bào mòn khi thủy triều lên. gió, nước, thiên nhiên, lực tác động khác sẽ mau chóng chấm dứt sự tồn tại của những hình vẽ độc nhất không bao giờ trùng lắp này. để hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật như vậy, nghệ nhân phải cảm nhận cái gì tồn tại trong một thời gian ngắn là cái đẹp bất chợt rất mầu nhiệm, sống động. trong văn hóa phương tây, nghệ thuật phù du có thể bao gồm hình vẽ tùy tiện và sau đó sẽ bị xóa bỏ. tại ấn độ có nhiều loại nghệ thuật phù du như: hình nộm tạo ra cho các lễ hội, tượng được mặc quần áo để trang trí cho các cuộc lễ, sơn vẽ để trang trí trên cơ thể. tại tây tạng, các nhà sư tạo ra các mạn đà la để sử dụng trong nghi lễ. tại việt nam các tín đồ chưng hoa quả để dâng cúng.
trong phật giáo tây tạng tranh cát được gọi là dul-tson kyil-khor (mạn đà la). cát được cẩn thận rải lên mặt phẳng một tấm bảng lớn, quá trình sáng tạo phải mất vài ngày có khi vài tháng với các họa tiết và màu sắc và bố cục mang những hàm ý triết lý tâm linh. những vị tăng sĩ người tây tạng đã tỉ mỉ dùng vô số hạt cát nhuộm màu làm thành một mô hình mạn đà la đầy mầu sắc. quá trình diễn tiến như là một phương pháp hành thiền của phật giáo, được dùng để ban phúc lành và để trình bày quan điểm là mọi vật trên thế gian dù thật đẹp đều chỉ là phù du. khi vừa làm xong cũng là lúc nó bị phá hủy. việc xây đắp và phá hủy mạn đà la là để tượng trưng cho sự phù du của tất cả mọi vật hiện hữu. thêm vào đó, nó cũng cho chúng ta một bài học của sự không dính mắc. điều đó được tiến hành như một phương pháp giảng dạy và phép ẩn dụ cho sự vô thường.
tranh cát cũng như các bộ môn nghệ thuật khác cùng với thời gian để tồn tại tùy theo từng thời kỳ tùy vào môi trường văn hóa xã hội mà nó có những phát triển, biến đổi vô cùng phong phú với những biến thể của nó trong thế kỉ 21 hết sức ngọan mục. ở việt nam nổi tiếng nhất là tranh cát đổ hộp thủy tinh của nghệ nhân ý lan và tranh cát động vẽ trên mặt kính của nghệ sĩ trí đức. những lọai cát màu thiên nhiên, hoặc bột khóang chất hay tinh thể các sắc tố khác có nguồn gốc tự nhiên hoặc chất liệu tổng hợp được đổ vào lọ thủy tinh và được dùng que vẽ thành những bức tranh lung linh, huyền ảo, đẹp hút hồn nhưng đó là những bức tranh rất dễ vỡ, chỉ cần va chạm nhẹ là tan tành.
vừa độc đáo vừa phức tạp trong biểu cảm ngôn ngữ tượng hình, những bàn tay tài hoa của nghệ nhân vẽ cát được xem là “ngòi bút của thần linh”. những hình vẽ từ ngón tay như nét bút thảo của thần linh hiện ra thẳng trên “bảng toile lạ” là đất, cát, tro núi lửa và cả đất sét… muôn đường uốn khúc liền lạc bó trong một khung tranh vô hình tạo ra các mô típ đồ họa đa phần đối xứng, vừa nghệ thuật, sống động vừa hàm ý. chức năng một tranh vẽ đất, cát, tường,… ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. nó có thể được hiểu như một tác phẩm nghệ thuật, ký thác thông tin, minh họa câu chuyện, hay một vật thể để người xem nghiền ngẫm.
từ xưa đến nay, chúng ta quen với những tác phẩm nghệ thuật tồn tại qua nhiều thế kỷ như pho tượng aphrodite, bức họa la joconde, thần vệ nữ say ngủ,...chúng ta cứ mê mãi trong những tác phẩm với những chủ đề kéo dài gần như vô tận. trong lịch sử nghệ thuật, thế hệ mới luôn luôn tìm cách phá vỡ thế hệ trước. nghệ thuật đương đại đang tạo ra một lọai hình mới với những tác phẩm nghệ thuật bằng các chất liệu tự nhiên như cành cây, hoa, lá, đá, giấy, các hình vẽ trên đường phố bằng phấn sáp dễ bay màu. ngay từ thế kỉ thứ 16 tại ý, những nghệ sĩ lang thang được gọi là “madonnari” đã tái hiện những bức tranh tôn giáo lên mặt phố chỉ bằng gạch, than, đá, phấn, sáp,… để kiếm chút đỉnh tiền lẻ của khách thập phương. ngày nay tranh phấn sáp đã thịnh hành và nhiều nơi trên thế giới tổ chức lễ hội tranh phấn sáp như một họat động giải trí của thị dân. nó phá bỏ ranh giới giữa cuộc sống với các gallery và bảo tàng nghệ thuật. phù du là vẻ đẹp của tranh phấn sáp, hay nói cách khác, nghệ thuật không nhất thiết phải cao sang và vĩnh cửu, miễn là nó có một lý do để tồn tại và sau đó có thể bôi xóa đi để tiếp tục tái tạo các biến thể khác.
dù không còn vô danh nhưng tranh biếm họa bị xem là phù du, là nghệ thuật của đời sống đô thị và tiêu dùng. ở việt nam, biếm họa xuất hiện từ khá sớm. những nhà báo của việt nam thời kỳ đầu đã xem biếm họa là một phương tiện, một công cụ để bày tỏ quan điểm, chính kiến qua các hình ảnh chỉ mang tính hoạt kê, khôi hài, rồi mới đến châm biếm. biếm họa dù đóng góp rất nhiều vào nhận thức của quần chúng xã hội về chức năng báo chí và các sức mạnh của nó, nhưng tại việt nam, nó vẫn còn bị xem nhẹ. thường các biếm họa chỉ xuất hiện một lần trên báo rồi chết.
cái phù du trong tác phẩm không phải là vấn đề hình thức. nghệ thuật vẽ tranh trên đường phố mới manh nha ở việt nam nhưng nó đã có cả chặng đường dài phát triển ở châu âu. những họa sỹ đam mê vẽ tranh đường phố đã tạo nên những đường phố kỳ diệu bằng tranh 3d hoành tráng, dù nó dễ dàng bị mưa nắng, gió, tuyết,… xóa nhòa.
nghệ thuật đương đại phát triển với hai xu hướng chính. xu hướng không gian bao gồm sắp đặt, biến đổi, trình diễn, sáng tạo không gian bằng mọi chất liệu. xu hướng thứ hai là áp dụng kỹ thuật số, màn hình, đèn chiếu... những tranh vẽ phù du phát triển theo hai xu hướng chính nầy và bản chất của nó là hữu hạn.
cuộc sống không ngừng trôi chảy, mà cuộc đời của mỗi con người thật ngắn ngủi quá. hãy lấp đầy bằng niềm vui và hạnh phúc trong những khoảnh khắc mà chúng ta nắm lấy được. khi nói đến "vô thường","phù du", chúng ta cảm nhận phần nào ý nghĩa sâu sắc của nó trong đời sống, nghệ nhân đương đại đã tạo nên một hành trình khám phá tâm linh bản ngã, qua những bức vẽ tồn tại trong thời gian ngắn, đó là khởi nguồn của nghệ thuật hội họa phù du hiện nay.
lê thu thùy

tạp ghi

PHÙ DU

nói về nghề viết, mình nhớ từng viết mỗi tuần 1 bài dung lượng từ 1.200 đến 1500 chữ. có tháng mình cày 5 bài. đó là thời gian mình ảo tưởng sẽ sống được bằng nhuận bút, nhưng hỡi ôi! có tờ báo trả mình 50 usd/ 1 bài viết. nhưng mỗi tháng đăng được 1 bài, có khi cả năm mới có bài được đăng, dù mình có cày như trâu thì cũng không đi bài nổi.
có một đứa bạn cũng thuộc diện giỏi văn, từng đi dạy văn và về sau thèm cái danh nhà báo, nó đã chạy chọt, hối lộ để được biên chế về một tạp chí văn hóa tỉnh. suốt 10 năm ròng nó không viết bài báo nào. ngày nào cũng đến cơ quan, không họp hành, học nghị quyết, đấu tranh, phê bình, sinh hoạt đảng thì đánh bài, ngồi chơi xơi nước.
bạn được cấp thẻ nhà báo và tới tháng nhận lương. hỏi mình sao không chạy việc. bạn còn cười bảo đền 54% người làm việc công đều hối lộ để có việc làm (đó là thông tin đã đăng trên cả chục tờ báo nhà nước), chưa chính xác, thậm chí 94% nữa kia, và số còn lại là cấp trên gửi gắm, con ông cháu cha, những người có quan hệ thân quen. 1% thường là những kẻ có bằng đỏ được nhận thử việc không lương và sẽ bị sa thải nếu không biết đi lại, đút lót.
đó là chuyện ngày trước, càng ngày công việc với mình càng khó khăn, kiếm tiền càng gian nan, đến tuổi 45 thì mất việc, thất nghiệp, không lương... viết gì cũng như bị trời hành. ngồi viết mà mấy ông anh cứ xỉa xói, biểu đi kiếm phương khác làm ăn, viết không tiền thì đừng viết.
có lẽ mình thôi viết từ đây. nhặt được 1 bài viết cũ, đăng lên cho vui
lê thu thùy

TRUYỆN NGẮN

THÍCH CẦM CỦA QUÝ

Ông lão kia dâm ô bậy bạ, nhưng có túc duyên từ kiếp trước, nên lão cũng tinh thông phật học, nhưng máu giang hồ số dách, lão chơi mười phương, chỉ chừa Tây Phương Cực lạc.
Một lần lão trốn vợ đi chơi gái, lão gặp một phụ nữ, đích thị là con yêu quái đầu thai, vài lần tò te, mua dâm chơi đĩ, lão hỏi quê quán, nghe nó bẩu, nó con nhà lành, lão động lòng và cả si tình nữa, lão dẫn nó về nhà, nói dối vợ và con trai đó là đứa nhỏ giúp việc, lão đem nó về giúp việc...
nó nhỏ hơn lão mấy mươi tuổi, có chơi trống bỏi cũng không ai nghi ngờ, hàng ngày hàng đêm, vắng mẹ vắng con trai, hoặc giả mượn cớ nhức lưng, đau đầu, chân tay tê bại, trước mặt vợ con lão vẫn đòi con yêu quái vào buồng đấm bóp, cạo gió, giác hơi....
vài năm như vậy, con yêu quái giờ ra con ở, dính bầu....
ăn nằm với lão, ở trong nhà lão, dính thai chỉ có thể là con của lão....
Cho tiền để nó ra khỏi nhà thì lão tiếc đứa con, lão lại không có tiền mua nhà riêng cung phụng như vợ bé, mà bầu ngày càng bự thì vợ biết sẽ gọt đầu, bôi vôi...
Lão trống bỏi mới dùng đến chước 'kẻ ăn ốc người đổ vỏ' - lão dạy con ở phấn son thật đẹp, nó cũng chênh lệch tuổi tác con trai lão chút ít, mà thằng chả lại không chịu đi kiếm vợ, không biết thế nào là tình yêu, mê đọc sách phật không ham trai gái...
Lão dạy con ở ăn mặc hở hang, ngọt ngào với cậu quý tử, dỗ ngon dỗ ngọt,rót rượu, đãi đằng, làm gì cũng được, cốt sao thằng quý tử chịu lên giường với con ở là cá cắn câu...
chẳng khó khăn gì khi họ ở cùng nhà, đêm đêm cậu quý tử ngồi trong phòng một mình là con ở trát phấn, lả lơi, khoác lên mình vài mảnh vải cho có, nhả nhớt nói cười với cậu quý tử, thằng chả cũng sung sướng thấy đêm nào cũng có đàn bà hầu hạ, rồi một đêm, có rượu, mồi, thuốc, và chất kích dục, thằng chả bị con ở lôi ra công viên chơi. ở đó từng cặp quấn nhau làm thằng chả nóng bừng bừng, lại bị chất kích dục, và con ở bây giờ áo xống trễ nải,...
Nó tỉ tê nó yêu cậu chủ, mong cậu chủ vui lòng hôn nó vài cái, chỉ vài cái thôi, chưa bao giờ được đi chơi với cậu...
con ở cũng có nhan sắc, ít ra là hồi đó, ai bằng tuổi nó cũng mơn mởn nên cấm có chê... thằng chả hôn lên má 1 phát nó đòi hôn tiếp lên môi, nó ngậm môi, mút lưỡi, liếm miệng thằng chả, rồi nó ép thằng chả ngậm vú nó...
Đến đây thì thằng chả hiểu ra, không gì dễ chịu bằng cái con ở khi nó chỉ đói cầm của quý cậu chủ, vào thời buổi đàn bà con gái chỉ muốn cầm tiền của đàn ông con trai, thì con ở chỉ muốn cầm của quý...
Sau vài giờ đồng hồ cầm cái thứ không phải tiền đàn ông, thằng chả ngây dại ra, vậy là 2 đứa lên xe về nhà, lên giường, ở miết trong phòng riêng suốt 3 ngày 3 đêm như động phòng hoa chúc....
Cái ngày con ở sinh con, tụi nó cũng đã công khai như vợ chồng trong nhà dù không hề cưới, bụng bự,bà mẹ mà sưng sỉa là ông già vuốt giận đành vui, bà chỉ chê con trai có mắt như mù, quyền quý như anh ta, không hẳn là nhà phú quý, nhưng quyền quý trời cho mà đi lại với cái thứ đàn bà thân phận chẳng ra gì, đứa trẻ sinh ra là con của chồng mà bà cứ tưởng là cháu...
Lê Thu Thùy

THẮNG CẢNH DU LỊCH

NON NƯỚC TRÀNG AN - HOA LƯ NINH BÌNH
                                                                                                Lê Thu Thùy
                                                H
Khu di tích Cố đô Hoa Lư nằm trên địa bàn giáp ranh giới 2 huyện Hoa Lư, Gia Viễnthành phố Ninh Bình. Vùng đất phù sa cổ ven chân núi này loài người cư trú từ rất sớm, thuộc sơ kỳ đồ đá cũ gọi là Nền Văn hóa Tràng An. Quần thể di sản thế giới Tràng An ở Hoa Lư còn lưu giữ nhiều di vật của người tiền sử. Vào thế kỷ thứ X các thung lũng mở Tràng An được tận dụng xây dựng Kinh đô Hoa Lư, đắp tường thành, xây chiến lũy khép kín để phòng địch và phục hưng văn hóa.
Dải đất Ninh Bình nằm trong tứ giác nước, được tạo bởi sông Đáy, sông Vân và sông Hoàng Long. Phía nam Hoa Lư là khu hang động sinh thái Tràng An với những dải núi đá vôi, các thung lũng và hệ thống sông ngầm đan cài làm nên một không gian huyền ảo. 
Tràng An có thiên nhiên thơ mộng, di tích linh thiêng và hệ động, thực vật phong phú, quý hiếm. Những ngọn núi cao chót vót từng là đài quan sát, cũng là tường thành bảo vệ Kinh đô. Toàn bộ khu vực Tràng An được các dãy núi đá vôi hình cánh cung bao bọc. Những khe nứt từ núi thể hiện sự vận động địa chất tạo ra các dòng chảy trong hang động lưu thông thành một nguồn nối liền các thung nước với nhau.
Từ năm 1960, một tuyến đê dài hơn 30 km được đắp bên phía tả ngạn để trị thủy sông Đáy, biến vùng đất ngập nước rộng đến 3.500ha thành Khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất đồng bằng Bắc bộ: Đầm Vân Long. Vốn là vùng ngập nước được mệnh danh “Vịnh không sóng”, khu vực Vân Long với quần thể hàng trăm núi đá vôi có đến 1000 hang động đẹp, dung dưỡng hàng trăm loài chim, loài động vật, thực vật quí hiếm.
Trải qua hàng chục nghìn năm săn bắt, hái lượm, sống dựa vào sự che chở của núi rừng, loài người ở Tràng An đã chứng kiến nhiều biến đổi về tự nhiên, những hiện tượng lạ từ địa chất đã gây nên sự ngạc nhiên chưa thể giải thích, tiếp tục được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được thiêng liêng hóa và tin thờ theo tín ngưỡng đa thần, dân trong vùng thờ cúng những nhân vật siêu nhiên nhưng gần gũi với loài người. Dân gian còn truyền tụng rằng: Khi Đinh Tiên Hoàng khởi nghiệp, ông được thần Cao Sơn phù trợ.
Là vị Hoàng Đế đầu tiên của nước Việt Nam, Đinh Tiên Hoàng tên thật là Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, chọn Hoa Lư làm kinh đô, dựng nền độc lập dân tộc, tồn tại được 42 năm với sự chuyển tiếp 3 triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý. Đại Cồ Việt là nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam sau một thời gian dài Bắc thuộc hơn một ngàn năm.  Khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) lên ngôi năm 1010, đất nước trên đà hưng thịnh, Hoa Lư vốn là vùng chiêm trũng, không còn phù hợp để phát triển kinh kỳ mới nên nhà vua xuống Chiếu dời đô về Thăng Long (Hà Nội). Từ đó Hoa Lư trở thành cố đô. Vùng đất  Ninh Bình cổ xưa giờ đã có nhiều đổi khác nhưng âm hưởng giá trị văn hoá lịch sử của kinh đô Hoa Lư lừng danh một thuở vẫn còn vang bóng. Điển hình là Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, tọa lạc trên khu đất rộng đến 5ha, được xây từ ngàn năm trước có đủ tượng thờ Thái tử, Hoàng tử, Tứ Trụ Triều Đình, Quần thần với Tiền điện, Hậu cung, Sân rồng, Bái đường, Ngai bệ, … của một bậc Tiên đế mở nền chính thống.
Khó có thể kể hết ra được những di sản văn hoá chồng chất trên mảnh đất này. Chỉ có thể nói rằng cái hồn của vùng đất mang tên Ninh Bình nằm ở trong lòng sông núi.
          Vừa qua, Nhà văn Vũ Đảm viết:
"... Tượng đài vua Đinh Tiên Hoàng và quảng trường ở Ninh Bình 1.500 tỷ , sau 7 năm khởi công vẫn ngổn ngang, nhiều hạng mục xuống cấp. Vua Đinh mà sống dậy cũng xót xa: Nước đang nghèo, dân đang khổ, xây làm gì lắm quảng trường, tượng đài cho lãng phí. Ta được lòng dân tạc tượng là hạnh phúc lắm rồi..."
          Nạn xây tượng đài và Quảng Trường ở Ninh Bình dù đến mức phải báo động nhưng khắp cả nước không tỉnh nào không có tượng đài. Ai cũng biết những công trình loại này luôn chia thành nhiều gói thầu nhỏ, ai nhận hoa hồng của từng gói thầu, ai xà xẻo công trình, ai rút ruột dự án, … những kẻ đó kiếm được tiền.
Có lần theo bạn bè chúng tôi về Vũ Lâm, nơi vua Trần Nhân Tông sau đại thắng Mông Nguyên lần thứ nhất, đã nhường ngôi cho Trần Thánh Tông, về lập am tu hành và xây dựng Hành cung Vũ Lâm làm căn cứ địa kháng chiến. Trên vùng đất này còn nguyên vẹn những ngôi nhà cổ, những hiểm địa xung yếu, những thung lũng chết và cánh đồng cửa mả… từng là mồ ma quân giặc. Ngày tôi đến Ninh Bình, Chùa Bái Đính mới vừa khánh thành to nhất Đông Nam Á, tôi không khỏi phiền lòng khi ghé qua Bái Đính cổ tự cũng gần đó, được xây từ thời Lý và là ngôi chùa xưa nhất Việt Nam ngày nay chỉ là di tích.
Khi Non Nước Tràng An Hoa Lư được UNESCO - xếp vào danh mục Di Sản Văn Hóa Thiên Nhiên Hỗn Hợp của Thế giới - cũng là khi giới nhà giàu mới đổ xô xây lâu đài ở Ninh Bình - Cái tượng đài và Quảng trường Đinh Tiên Hoàng kia chưa tốn kém bằng hàng chục lâu đài, hàng trăm biệt thự của các phú nông, đại gia Ninh Bình, Hà Nội… đang làm trò trọc phú xài tiền.
Ai từng biết Ninh Bình xưa hẳn nghe danh tiếng núi Hồi Hạc - ngọn núi có hình Kim tự tháp với những bia đá được khắc bằng chữ Hán cùng hệ thống hang động và các đồi lau, đồi cổ thụ đẹp mê hồn giờ đây đã bị những kẻ khai thác vật liệu xây dựng san phẳng biến thành sân vận động Ninh Bình.
          Có một nhà giàu mới xuất thân bần cố nông về sau làm chủ thầu xây dựng, sau khi phất lên như diều gặp gió cùng với đàn con 6 đứa, nhà ông xây 6 tòa lâu đài trên xứ Ninh Bình - tưởng chừng thỏa mộng vương giả, nhưng dù có đổ ra hàng chục ngàn tỷ đồng xây những lâu đài to hơn cung điện của các vua chúa ngày xưa thì cái xuất xứ thất học, cùng bầy con trưởng thành từ nghề lái xe công nông chuyên khai thác, vận chuyển vật liệu xây dựng các công trình lớn nhỏ của ông nhà giàu mới kia vẫn chỉ là kẻ may mắn ở đời thôi. Dân Ninh Bình hơn 50 % có mức thu nhập bình quân đầu người chừng 10 triệu đồng/năm (dưới 500usd/năm).
Non Nước Tràng An kỳ tú, tráng lệ, nhưng dân Ninh Bình lại nghèo. Trên vùng đất ngập nước này đời sống của người nông dân rất lao đa
o. Đến tuổi lao động đa số thanh niên phải bỏ quê đến nơi khác kiếm việc làm mưu sinh. Chuyện khó hiểu là vua chúa ngày xưa cũng thường uổng mệnh. Như Đinh Tiên Hoàng và người sẽ kế ngôi là Đinh Liễn bị ám hại chết. Rồi khi Lê Hoàn (Lê Đại Hành) thừa kế ngai vàng qua đời, Hoàng tử Lê Long Việt lên ngôi được 3 ngày thì bị em ruột là Lê Long Đĩnh sai người giết hại để cướp ngôi.
Dân gian còn nhiều giai thoại rất vui, chẳng hạn chuyện bà Thái hậu Dương Vân Nga (Con gái Dương Đình Nghệ) từng là vợ Đinh Tiên Hoàng, mẹ của Hoàng Tử Đinh Toàn. Khi cha con Đinh Tiên Hoàng – Đinh Liễn chết, Đinh Toàn mới 10 tuổi lên ngôi, Thái hậu Dương Vân Nga có tư tình với Lê Hoàn (Lúc bấy giờ là Thập đạo Tướng quân), bà quyết can thiệp để Lê Hoàn làm vua. Bạn bè thuở chăn trâu “Cờ lau tập Trận” cùng Đinh Bộ Lĩnh về sau theo ông khởi binh và trở thành Tứ Trụ Triều Đình là Định Quốc công Nguyễn Bặc - Tể tướng đầu triều; Đinh Điền - Ngoại giáp; Trịnh Tú - Sứ quan; Lưu Cơ - Đô hộ phủ Sĩ sứ… họ chống lại Lê Hoàn nhưng thế lực Lê Hoàn quá mạnh, họ bị Lê Hoàn loại trừ. Rồi xuất hiện những câu ca dao:
Thế gian có mắt như mờ
Để cho Thập đạo vào sờ Chánh cung.

Danh sĩ Trương Hán Siêu đời Trần từng đề thơ vịnh những kỳ quan thắng cảnh đẹp nhất Ninh Bình gồm: núi Non Nước (Dục Thúy sơn), núi Hồi Hạc (Khôi Hạc sơn), núi Cánh Diều (Ngọc Mỹ Nhân). Giờ đây núi Hồi Hạc đã biến mất, núi Cánh Diều bị đập phá, khai thác loang lổ, Dục Thúy sơn lại bị các nhà máy than phủ bụi đe dọa.
LÊ THU THÙY

          

ẢNH ĐẸP NGHỆ THUẬT



THẮNG CẢNH DU LỊCH

BÀ NÀ NÚI CHÚA
                                             LÊ THU THÙY

                             I     
  Núi Bà Nà được người Pháp khám phá từ hơn trăm năm trước, và chính người Pháp đã cho khai thông con đường độc đạo tại đây. Được xem là một kỳ công của tạo hoá nhưng chính con người mới thực sự góp sức cho Bà Nà được hồi sinh. Đã có một thời Bà Nà được mệnh danh là kinh đô nghỉ dưỡng của toàn cõi Trung Kì, bây giờ chỉ còn thấy một chút vết tích sót lại của những công trình kiến trúc mà người Pháp đã xây dựng hồi đầu thế kỉ 20.
Nà – Núi Chúa là một dãy núi thuộc huyện Hòa Vang, cách thành phố Đà Nẵng 48km về phía tây, cao 1487m so với mặt nước biển. Trên đỉnh núi có địa hình bằng phẳng như cao nguyên nhỏ tọa lạc giữa bốn bề thiên nhiên mát dịu ngập một màu xanh của rừng và của màu đại dương biếc xanh. Từ đỉnh Bà Nà có thể chiêm ngưỡng cả một vùng rộng lớn, phía Tây là dãy Trường Sơn, phía đông là biển cả mênh mông, ẩn trong sương là những hòn đảo lớn nhỏ lô nhô. Phía Bắc Đèo Hải Vân cao vút, ẩn hiện giữa trời mây, quanh co, hiểm trở, phía Nam là cửa sông Nam Ô đổ ra biển thấp thoáng những làng chài ở chân núi. Vào những ngày trời quang mây tạnh, từ Bà Nà, vốn được mệnh danh là sân thượng của Đà Nẵng có thể thu gọn trong tầm mắt cả một vùng không gian: thành phố, vịnh Đà Nẵng (người dân địa phương vẫn quen gọi là Vũng Thùng) với đường viền hình vòng cung từ chân đèo Hải Vân đến bán đảo Sơn Trà, bãi biển Mỹ Khê, non nước Ngũ Hành Sơn, sông Thu Bồn uốn quanh những cánh đồng trù phú, biển cả bao la nhấp nhô sóng biếc...
Địa danh Bà Nà có lẽ liên quan đến vùng đất từng là đế đô của người Chàm hơn mười thế kỷ trước. Bà Nà hoặc bà Pô – Nagar tức Thánh mẫu Thiên Y A Na từng được thờ phụng trên núi Chúa. Nơi đây còn là địa điểm hành hương tâm linh về thượng ngàn. Lĩnh Chúa Linh Từ là nơi tôn thờ Bà Chúa linh thiêng của cả vùng núi Bà Nà. Từ bao đời nay người dân trong vùng vẫn tin thờ bà là mẹ cai quản rừng núi, gắn bó với cỏ cây, chim, thú, phù hộ chở che cho con người.
Đến với Bà Nà, ta sẽ cảm nhận được cảm giác như đi lạc trong mây. Không khí ướt đẫm, mây trắng là là giăng ngang đỉnh núi trông tựa như những tảng thiên thạch lớn thoạt ẩn thoạt hiện trong một buổi chiều mưa. Nhưng lúc này đang độ vào thu, màu trời xen lẫn với màu xanh lục của những cánh rừng càng thấm thêm chút sắc buồn thâm u, trầm mặc. Cảnh sắc này ắt hẳn cũng từng ru hồn bao khách trần tìm đến để mong khám phá và chinh phục một cõi thiên nhiên hùng vĩ giữa đất trời.
Thiên tai, địch họa hơn nửa thế kỉ qua đã làm mất đi dấu tích các lâu đài, nhà nghỉ cổ xưa... nhưng vẫn còn đó sự hào phóng của thiên nhiên với những cánh rừng nguyên sinh và một vùng khí hậu ôn hòa mát mẻ với muôn ngàn âm thanh xào xạc của đồi thông hòa quyện cùng khúc nhạc rì rầm của những con suối tràn lên trên các vách đá, rồi lặng lẽ lẫn khuất sau những cánh rừng xanh ngắt.
Hồi đầu thế kỉ 20, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã chọn Bà Nà “đẹp như bồng lai tiên cảnh” với khí hậu mát mẻ quanh năm để xây dựng khu điều dưỡng cho người Pháp. Sau khi đường lên đỉnh núi được hoàn tất, các dịch vụ như điện, nước, bệnh viện, bưu điện, nhà hát opera, biệt thự, ngân hàng, khách sạn,… được quy hoạch rất hoàn hảo.
Chúng tôi dạo qua căn hầm rượu cũng do người Pháp xây dựng vào thời hoàng kim của họ còn nguyên vẹn. Căn hầm bây giờ vẫn được sử dụng để chưng cất rượu và luôn mở cửa để khách vào tham quan, thưởng thức vài chum rượu nho và sống với những hoài niệm dĩ vãng.
Vào những năm chiến tranh thị trấn nghỉ mát này đã bị bỏ hoang, nhiều lâu đài, nhà nghỉ đã bị phá bỏ, san bằng, một thị tứ sầm uất chỉ còn lại phế tích là những nền nhà, những bức tường đã loang lổ, đổ nát. Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, một công viên bảo tồn và phát triển các loài động vật hoang dã ra đời, đối tượng bảo vệ là là rừng nhiệt đới và nhiều loại động, thực vật quý hiếm. Phải đến năm 2000, Bà Nà mới được hồi sinh để trở thành một thị trấn du lịch.
Để hiện thực hóa ý tưởng tái hiện lại một làng Pháp cổ kính với nghệ thuật kiến trúc đầu thế kỷ XX trên đỉnh Bà Nà, năm 2011 một lâu đài kiểu Pháp rất nguy nga ẩn mình trong cảnh thiên nhiên tuyệt sắc của bạt ngàn rừng nguyên sinh kỳ vĩ được khởi công xây dựng và hoàn thành.
 Thức trọn một đêm trên đỉnh Bà Nà, chén trà trên tay lắng nghe tiếng gào thét của gió ngàn. Đứng trên đồi Vọng Nguyệt có thể nhìn toàn cảnh thành phố Đà Nẵng dưới ánh đèn lung linh, huyền ảo. Về hướng đông,  thác Tóc Tiên nằm ở suối Mơ gần đó như suối tóc của một nàng tiên buông xõa bồng bềnh giữa suối rừng huyền ảo. Dưới ánh trăng, những đồi cỏ xanh bạt ngàn hoa dại bàng bạc sắc hương như dâng cho đời vẻ đẹp tự nhiên nhất. Trên các triền vách đá, những vạt cây dại như trải thảm. Nhìn từ xa, du khách không khỏi ngỡ ngàng bởi cảm giác dịu mát của cây xanh, sự tinh tế của quần thể đá màu chất chồng, cùng hệ thống suối nước róc rách như hân hoan. Vào những ngày nắng đẹp, mặt nước hồ suối Mơ tựa như một tấm thảm bạc lấp lánh ánh mặt trời được phản quang giữa lòng suối lung linh. Càng lên cao, cảnh vật hiện ra càng đẹp mắt, về phía thượng nguồn, vẻ đẹp hoang dã càng thêm quyến rũ. Suối Mơ kỳ tú đến huyền hoặc: những khe suối mềm mại mà mãnh liệt len lỏi qua nhiều tầng thác trong các khe đá chảy xuống như những giải lụa bạc rồi cùng hội tụ vào một vùng trũng thấp được kiến tạo toàn cát, đá liên kết và tạo nên lòng hồ Thùy Dương. Giữa không khí núi rừng im vắng ấy, thỉnh thoảng vang lên tiếng chim kêu vượn hú, bàng bạc hương hoa dìu dịu. Hồ Thùy Dương xanh biếc hàng đời tiếp nhận vô tư nguồn nước ngầm len lỏi qua vách đá đổ về.
Bà Nà còn là một vườn hoa khổng lồ với hàng trăm loài hoa khoe sắc trải khắp các lối đi. Những chùm địa lan, hoa mua rừng, hoa cúc vàng, hoa loa kèn, hoa đào chuông, cẩm tú cầu… vươn mình múa lượn. Hoa rực rỡ những con đường mòn quanh đỉnh núi, qua những ngôi nhà hoang phế, rêu phong, len lỏi nở trên các vách đá. Hoa điểm xuyết cho bức tranh thiên nhiên Bà Nà vẻ đẹp lãng mạn  mà lộng lẫy.
Mọi cảnh vật có những góc hồn riêng trong sâu thẳm lòng người khi cảm xúc. Buổi chiều Bà Nà gió thổi lạnh buốt và mây mù phủ kín cả một khoảng không gian rộng lớn. Rải rác trên những ngọn đồi vẫn còn dấu tích đổ nát của mấy ngôi biệt thự có từ thời Pháp thuộc. Nhìn nền móng hoang tàn trong cảnh chiều thu chợt thấy se lòng.
Bà Nà – núi Chúa nơi hội tụ vẻ mông lung, lãng mạn của tạo vật, chút cảm hoài gạch ngói rêu phong của thời gian và sự tham dự có ý thức của con người vào cái đẹp. Sương thu thấm lạnh, núi rừng về đêm được trả lại vẻ hoang sơ nguyên thuỷ. Đứng giữa không gian bàng bạc màu sương khói này, tôi mới có dịp lắng nghe từng tiếng thì thầm của gió ngàn vi vút, và cảm nhận ra bao sức sống diệu kỳ của ngàn cây nội cỏ.
                                                     
LÊ THU THÙY

          

NGHỆ THUẬT



NHỮNG TRANH VẼ PHÙ DU
                                  Bài của Lê Thu Thùy
                                  I                                                 
          Đặc trưng của nghệ thuật chân chính là sự biểu hiện có chọn lọc những cái gì đẹp đẽ và loại bỏ những cái gì thô mạt và hạ phẩm như là chuyện đương nhiên. Một khái niệm khác vốn cho rằng cái đẹp tuyệt đỉnh là cái đẹp thoáng qua, ngắn ngủi,… cùng với những thú vui tinh tế, dễ vỡ là thuộc tính của sự ưu nhã nhấn mạnh đến sự vô thường của cuộc đời.
 Nghệ Thuật Phù Du (Ephemeral Art) được mô tả như là một loại hình nghệ thuật có giới hạn tuổi thọ, nó tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định để hoàn thành một mục đích cụ thể và sau đó bị phá huỷ hoặc dần dà mất đi. Dù nỗ lực tìm mọi cách để giữ lại những tác phẩm ấy như bằng hình chụp in tem, in trên tiền và đưa vào làm mẫu trên các chất liệu khác như đan thêu, dệt thổ cẩm,… biến chúng thành các biểu tượng đặc trưng của nghệ thuật, chúng vẫn cứ là di sản văn hóa phi vật thể dễ mai một.     
Được xem là báu vật mong manh, tính chất phù du của Tranh vẽ trên bãi biển khiến nó trở thành một bảo bối văn hóa ngắn ngủi nhất nhân lọai.  Những bức vẽ này nhanh chóng bị sóng biển bào mòn khi thủy triều lên. Gió, nước, thiên nhiên, lực tác động khác sẽ mau chóng chấm dứt sự tồn tại của những hình vẽ độc nhất không bao giờ trùng lắp này. Để hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật như vậy, nghệ nhân phải cảm nhận cái gì tồn tại trong một thời gian ngắn là cái đẹp bất chợt rất mầu nhiệm, sống động. Trong văn hóa phương Tây, nghệ thuật phù du có thể bao gồm hình vẽ tùy tiện và sau đó sẽ bị xóa bỏ. Tại Ấn Độ có nhiều loại nghệ thuật phù du như: hình nộm tạo ra cho các lễ hội, tượng được mặc quần áo để trang trí cho các cuộc lễ, sơn vẽ để trang trí trên cơ thể. Tại Tây Tạng, các nhà sư tạo ra các mạn đà la để sử dụng trong nghi lễ. Tại Việt Nam các tín đồ chưng hoa quả để dâng cúng.
Trong Phật giáo Tây Tạng Tranh cát được gọi là dul-tson kyil-khor (mạn đà la). Cát được cẩn thận rải lên mặt phẳng một tấm bảng lớn, quá trình sáng tạo phải mất vài ngày có khi vài tháng với các họa tiết và màu sắc và bố cục mang những hàm ý triết lý tâm linh. Những vị Tăng sĩ người Tây Tạng đã tỉ mỉ dùng vô số hạt cát nhuộm màu làm thành một mô hình mạn đà la đầy mầu sắc. Quá trình diễn tiến như là một phương pháp hành thiền của Phật Giáo, được dùng để ban phúc lành và để trình bày quan điểm là mọi vật trên thế gian dù thật đẹp đều chỉ là phù du. Khi vừa làm xong cũng là lúc nó bị phá hủy. Việc xây đắp và phá hủy mạn đà la là để tượng trưng cho sự phù du của tất cả mọi vật hiện hữu. Thêm vào đó, nó cũng cho chúng ta một bài học của sự không dính mắc. Điều đó được tiến hành như một phương pháp giảng dạy và phép ẩn dụ cho sự vô thường.
Tranh cát cũng như các bộ môn nghệ thuật khác cùng với thời gian để tồn tại tùy theo từng thời kỳ tùy vào môi trường văn hóa xã hội mà nó có những phát triển, biến đổi vô cùng phong phú với những biến thể của nó trong thế kỉ 21 hết sức ngọan mục. Ở Việt Nam nổi tiếng nhất là Tranh cát đổ hộp thủy tinh của nghệ nhân Ý Lan và Tranh cát động vẽ trên mặt kính của nghệ sĩ Trí Đức. Những lọai cát màu thiên nhiên, hoặc bột khóang chất hay tinh thể các sắc tố khác có nguồn gốc tự nhiên hoặc chất liệu tổng hợp được đổ vào lọ thủy tinh và được dùng que vẽ thành những bức tranh lung linh, huyền ảo, đẹp hút hồn nhưng đó là những bức tranh rất dễ vỡ, chỉ cần va chạm nhẹ là tan tành.
Vừa độc đáo vừa phức tạp trong biểu cảm ngôn ngữ tượng hình, những bàn tay tài hoa của nghệ nhân vẽ cát được xem là “ngòi bút của thần linh”. Những hình vẽ từ ngón tay như nét bút thảo của thần linh hiện ra thẳng trên “bảng toile lạ” là  đất, cát, tro núi lửa và cả đất sét… Muôn đường uốn khúc liền lạc bó trong một khung tranh vô hình tạo ra các mô típ đồ họa đa phần đối xứng, vừa nghệ thuật, sống động vừa hàm ý. Chức năng một tranh vẽ đất, cát, tường,… ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Nó có thể được hiểu như một tác phẩm nghệ thuật, ký thác thông tin, minh họa câu chuyện, hay một vật thể để người xem nghiền ngẫm.
 Từ xưa đến nay, chúng ta quen với những tác phẩm nghệ thuật tồn tại qua nhiều thế kỷ như pho tượng Aphrodite, bức họa La Joconde, Thần Vệ nữ say ngủ,...Chúng ta cứ mê mãi trong những tác phẩm với những chủ đề kéo dài gần như vô tận. Trong lịch sử nghệ thuật, thế hệ mới luôn luôn tìm cách phá vỡ thế hệ trước. Nghệ thuật đương đại đang tạo ra một lọai hình mới với những tác phẩm nghệ thuật bằng các chất liệu tự nhiên như cành cây, hoa, lá, đá, giấy, các hình vẽ trên đường phố bằng phấn sáp dễ bay màu. Ngay từ thế kỉ thứ 16 tại Ý, những nghệ sĩ lang thang được gọi là “madonnari” đã tái hiện những bức tranh tôn giáo lên mặt phố chỉ bằng gạch, than, đá, phấn, sáp,… để kiếm chút đỉnh tiền lẻ của khách thập phương. Ngày nay Tranh phấn sáp đã thịnh hành và nhiều nơi trên thế giới tổ chức lễ hội tranh phấn sáp như một họat động giải trí của thị dân. Nó phá bỏ ranh giới giữa cuộc sống với các gallery và bảo tàng nghệ thuật. Phù du là vẻ đẹp của tranh phấn sáp, hay nói cách khác, nghệ thuật không nhất thiết phải cao sang và vĩnh cửu, miễn là nó có một lý do để tồn tại và sau đó có thể bôi xóa đi để tiếp tục tái tạo các biến thể khác.
          Dù không còn vô danh nhưng tranh biếm họa bị xem là phù du, là nghệ thuật của đời sống đô thị và tiêu dùng. Ở Việt Nam, biếm họa xuất hiện từ khá sớm. Những nhà báo của Việt Nam thời kỳ đầu đã xem biếm họa là một phương tiện, một công cụ để bày tỏ quan điểm, chính kiến qua các hình ảnh chỉ mang tính hoạt kê, khôi hài, rồi mới đến châm biếm. Biếm họa dù đóng góp rất nhiều vào nhận thức của quần chúng xã hội về chức năng báo chí và các sức mạnh của nó, nhưng tại Việt Nam, nó vẫn còn bị xem nhẹ. Thường các biếm họa chỉ xuất hiện một lần trên báo rồi chết.
Cái phù du trong tác phẩm không phải là vấn đề hình thức. Nghệ thuật vẽ tranh trên đường phố mới manh nha ở Việt Nam nhưng nó đã có cả chặng đường dài phát triển ở châu Âu. Những họa sỹ đam mê vẽ tranh đường phố đã tạo nên những đường phố kỳ diệu bằng Tranh 3D hoành tráng, dù nó dễ dàng bị mưa nắng, gió, tuyết,… xóa nhòa.
Nghệ thuật đương đại phát triển với hai xu hướng chính. Xu hướng không gian bao gồm sắp đặt, biến đổi, trình diễn, sáng tạo không gian bằng mọi chất liệu. Xu hướng thứ hai là áp dụng kỹ thuật số, màn hình, đèn chiếu... Những tranh vẽ phù du phát triển theo hai xu hướng chính nầy và bản chất của nó là hữu hạn.
          Cuộc sống không ngừng trôi chảy, mà cuộc đời của mỗi con người thật ngắn ngủi quá. Hãy lấp đầy bằng niềm vui và hạnh phúc trong những khoảnh khắc mà chúng ta nắm lấy được. Khi nói đến "vô thường","phù du", chúng ta cảm nhận phần nào ý nghĩa sâu sắc của nó trong đời sống, nghệ nhân đương đại đã tạo nên một hành trình khám phá tâm linh bản ngã, qua những bức vẽ tồn tại trong thời gian ngắn, đó là khởi nguồn của nghệ thuật hội họa phù du hiện nay.
                            
LÊ THU THÙY

DU HỌC

NHỮNG NĂM THÁNG THA HƯƠNG
                                                                                      Lê Thu Thùy

Chỉ còn hai ngày nữa là Trần Ánh Lê bay trở lại Pháp. Chuyến về thăm nhà ngắn ngủi của cô với một tâm sự đầy ắp nỗi niềm tha hương và cô không thể vượt qua được cảm giác thiếu vắng bao trùm trong người, nhất là giờ đây người mẹ kính yêu của cô đã ra đi vĩnh viễn. Cô nhìn mái tóc bạc phơ của cha mà nghe lòng quặn đau. Cha mẹ cô từng kì vọng nơi cô biết bao nhiêu. Mỗi lần cô về, cha nhìn cô với ánh mắt rạng ngời. Bao giờ cũng tưởng cô sẽ trở về xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, ấm no nơi quê nhà.
Mười năm trước, khi đang là sinh viên xuất sắc khoa quản trị kinh doanh của trường Đại học Kinh Tế, Ánh Lê đã vội lao theo một anh chàng là cựu du học sinh ở Pháp về thăm trường mà cô ngưỡng mộ. Ngày ấy với cô được sang Pháp du học cũng có nghĩa là đi tìm cuộc sống mới, với những người bạn mới và một nền văn hóa mới. Cô đã đến được nước Pháp và mọi thứ nằm ngoài sự chờ đợi của cô. Ngày ấy cô nào biết rằng, anh cựu du học sinh kia, khi đã sống đủ lâu ở Pháp, đã lấy được bằng tiến sĩ, có một công việc đáng mơ ước, anh hoàn toàn tự lập, tự chủ trong cuộc sống của mình. Còn cô, với hai bàn tay trắng, lại nữa, trước khi đi du học, cô phải xoay quanh tìm hiểu việc theo đuổi các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh tại Pháp, trong khi vốn tiếng Pháp của cô là con số không.
Mười năm ở Pháp Ánh Dương trải qua gần chục chỗ làm. Thời sinh viên muốn đi làm thêm với cô cũng không phải dễ dù chỉ là học hành và lao động mưu sinh. Cô vẫn còn nhớ mình làm việc đến ngất xỉu tại một trang trại trong một kì nghỉ hè, bị mọi người cười chê. Đó là những ngày cô đi hái nho với những người bạn đồng hương đến từ những thành phố khác nhau. Cô đã yêu cái công việc vất vả nhất ấy, mỗi sáng khi đến cánh đồng nho, cô đã đi trên con đường với hàng trăm hầm rượu sâm banh có tuổi đời cả thế kỉ. Cô đã lao về phía kinh đô ánh sáng mà không biết trước rằng sẽ vô cùng điêu đứng khi một nữ sinh hai mươi tuổi, hoàn toàn không thể giao tiếp được bằng ngôn ngữ bản xứ cho dù nhà nước Pháp chi trả hầu như toàn bộ học phí của sinh viên nước ngoài.
Mười năm ở Pháp, lượng sách Ánh Lê đọc nhiều gấp hàng chục lần những gì cô tìm đọc khi còn ở Việt Nam. Cô đã nhiễm thói quen đọc sách của người Pháp. Cũng nhờ đánh vật với hàng núi sách cô mới thông thạo tiếng Pháp đủ để đi làm thêm ở những quán ăn, những trang trại và những những lỗ thủng trong cô lại nhiều hơn khi nhận đồng lương bèo bọt. Bây giờ thì những chuyến xe buýt đường dài mà Ánh Lê thường đi, kỉ niệm thì ở lại với bao vui, buồn, sướng, khổ cô chôn chặt suốt mười năm vẫn còn trĩu nặng. Xa nhà, xa những người mình thân yêu nhất, mới thấy trân trọng biết bao nhiêu những tình cảm gia đình, bè bạn, và càng quý giá biết bao những thứ tưởng chừng như bình dị nhất thuộc về quê hương. Và, những buổi liên hoan, những bữa tiệc nho nhỏ với những món ăn đạm bạc như rau dưa đậm chất quê nhà là điều không thể thiếu với cô.
Mùa đông ở Pháp bầu trời ảm đạm, tiết trời giá lạnh, cô cố tìm một cái gì đó thân thuộc gần gũi với quê hương mình và mong gặp một người Việt để nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ khi ngồi trên xe buýt đến công sở. Cô luôn bị ám ảnh bởi những người vô gia cư, quần áo phong phanh trong cảnh rét buốt vạ vật từng nhóm đối nghịch với những người ăn mặc sang trọng giữa cảnh phồn hoa đô hội.
Hồi tưởng lại cả quá trình từ khi làm hồ sơ xin học bổng đến khi ra trường, làm việc, kết hôn với một người quốc tịch Pháp, tạo dựng cho mình một chỗ đứng và xây dựng tổ ấm gia đình là một hành trình vô cùng gian nan. Ánh Lê đã sống trong nỗi nhớ gia đình, quê hương, bao khắc khoải của sự níu kéo mơ hồ để hết thảy, dồn vào niềm mong đợi phong thư của người nhà. Hôm nay mẹ cô đã không còn sống để nhìn lại đứa con gái nhỏ ngày nào. Ánh Dương vẫn chưa qua được nỗi niềm mình xuất thân từ một gia đình nghèo. Lại nữa, cha mẹ Ánh Lê đã từng chạy vạy khắp nơi vay tiền cho cô du học và điều đó trở thành một kỉ niệm cay đắng khi nước Pháp không là nơi cô hái ra tiền và cô phải làm thêm mới kiếm đủ tiền trang trải sinh hoạt phí vốn vô cùng đắt đỏ. Cô đã không kiếm ra tiền để giúp đỡ gia đình như mơ ước cho dù cô tìm được việc làm và xin được giấy phép lưu trú rồi định cư hẳn sau khi tốt nghiệp. Nhưng cô đã lựa chọn nước Pháp. Giờ đây, khi đã là công dân Pháp, nằm trong dòng người nhập cư, đến từ Việt Nam, nước Pháp có ý nghĩa với cô bởi đó là mảnh đất sẽ còn dưỡng nuôi cô dài lâu để những hạt giống trong tâm hồn cô bừng nở. Từ chỗ một người đến từ đất nước nghèo nàn, mất tự do cô bị choáng ngợp trước sự bình an, sung túc, tự do nơi được mệnh danh là kinh đô ánh sáng, nơi ấy có những vòng tay nhân ái mở rộng ôm lấy cô, có những giáo sư từng truyền đạt những bài học rồi dắt dẫn cô đến hội chợ việc làm, giúp cô rải CV và tích lũy kinh nghiệm xin việc. Cô luôn cảm thấy biết ơn nước Pháp đã đem lại công ăn việc làm cho cô, nơi đây những cánh tay, nụ cười và ánh mắt xanh biếc của một người vừa mới quen từ giã khi cô rời phi trường sao mà đầm ấm. Thế nhưng còn một sự khác biệt giữa cuộc sống của người Pháp và người Việt và cả sự rạn nứt trong lòng nước Pháp mà sống lâu trên xứ sở ấy cô mới biết.
 Ánh Lê đã mang theo bao hoài bão khi đến Pháp và cô đã thuộc về nước Pháp như cô hằng tin đây là số phận định sẵn. Nhưng cuộc sống quả không dễ dàng gì khi mà bao nhiêu khó khăn dồn dập cho một người Việt Nam hòa nhập với một cộng đồng mới mẻ. Nước Pháp với Ánh Lê, cựu du học sinh ngành Quản lý – Kinh tế Ứng dụng (IAE de Lyon, Pháp) còn là nơi chứa chở nhiều thương đau, mất mát. Nơi đó, với những nếm trải nỗi sợ hãi về những vụ khủng bố gần đây chính là nguồn cơn để cô hiểu ra ngay giữa kinh đô ánh sáng trong cô vẫn thường trực nỗi lo âu và khi nghĩ về quê hương trong cô dường như có những khoảng trống vô hình cứ rộng mở. Có đôi khi cô cảm giác mình đang đứng giữa nhiều dòng chảy của cuộc sống bởi bàn tay nắm chặt quê hương mình cũng có lúc phải buông lơi.
LÊ THU THÙY

BÀI Đăng THEO THỨ TỰ NGÀY THÁNG

TRUYỆN NGẮN

TẬP TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC                    TÁC GIẢ: LÊ THU THÙY                            1. NHỮNG DẤU CHÂN MỜ XA               ...