Danh sách Blog của Tôi

Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

TRUYỆN NGẮN


NGÔI NHÀ TRONG MƠ
                                            
Tôi được giới thiệu họ là hai thầy trò, cô gái sống dưới ngôi chùa Bảo An nhiều năm và có ý định xuất gia. Sau này cô bảo thật ra đó là ý định vô cùng rồ dại, Cô không có vẻ gì là một ni cô cả, theo một số bạn bè cho biết, cô thường mộng du đi trên bờ rào mắt lưới vào những đêm khuya trăng sáng. Cô thường đi chơi đêm về muộn với một đám thanh niên, họ xem cô như người cùng phái, cô cũng xử sự như một thằng con trai. Cô sống với những dự năng kỳ lạ và bảo cần phải tỏ ra cóc cần đời để có thể tồn tại mà không phát  điên. Cô thường mơ thấy mình là một nữ hoàng ngự trị một quốc gia hùng cường, vì thế thường trực trong cô là trạng thái thẫn thờ tiếc nuối vương quốc bị đánh mất của mình và cô cứ thao thức với khát vọng tìm kiếm, một lần cô kể cô đã tìm lại đựợc ngôi nhà cũ không phải trong mơ mà chính trong trạng thái trầm tư. Nó hiện ra trong khoảnh khắc nhưng dường như vĩnh cữu. Tôi nghĩ đấy là một linh ảnh.
Nhà sư lo lắng cho trạng thái tinh thần cô gái. Trụ trì chùa Bảo An đã mấy mươi năm, ông học nhiều biết rộng và là con người vô cùng khả kính, ai có niềm lo lắng, ưu tư tìm đến gặp ông khi ra về đều cảm thấy tâm hồn vô cùng thư thái, mọi ưu tư đều được giải toả.
Cách đây mấy mươi năm, một người đàn bà mang đến trao cho ông một đứa bé gái, ông đặt tên nó là Phượng Ly. Cô không có kỷ niệm nào trước lúc vào sống trong chùa, nhưng cô tự biết mình là trẻ mồ côi, dù cô cũng biết mẹ mình đang sống với người đàn ông cùng những đứa em khác cha với cô. Bà lem luốt tất bật mưu sinh.
Nhà sư dành cho cô một tình yêu thương nhiều khi làm cô khó chịu. Vốn nhạy cảm cô cho rằng ông bệnh hoạn, từ lúc cô bắt đầu lớn, cô làm cho nhà sư đau khổ nhiều hơn, cô lẩn tránh sự chăm sóc của ông,  và hay nói những lời cay nghiệt để dày vò ông.
Xin kể thêm từ nhỏ cô đã bộc lộ nhiều thiên tư của một thần đồng, cô làu thông kinh sách và thường hào hứng tranh luận, đối chất với nhà sư. Cô ngỡ nhà sư kỳ vọng nhiều ở mình, nhưng thật ra ông bị ám ảnh bởi lời tiên tri cũa một chiêm tinh gia: cô gái này về sau sẽ tổn đức.
Tôi quen biết cô trong một dịp lễ hội. Khi tôi mang đến tặng cô mấy bông hoa, cô lơ đãng bóp nát và ném vào tôi tiếng cười khó hiểu:
-         Đàn bà yêu hoa có thể ví như đàn ông yêu gái. Anh có yêu hoa?
Tôi ngạc nhiên:
-         Không. Nhưng anh tưởng em yêu hoa như mọi cô gái khác, được ai tặng hoa thì các nàng vô cùng thích thú. Yêu hoa là yêu cuộc sống mà.
-          Em không yêu cuộc sống, nhiều khi em có cảm giác mình chưa từng sống nữa.
Tôi quan tâm cô từ đấy, cô như bóng dáng tôi thời trẻ: Cô đơn, khắc khoải lại kiêu bạc.
Phượng ly đến học trường này do một thôi thúc định mệnh nào đó, cô không lý giải nổi hành động của mình khi đột ngột bỏ ngang Học Viện Phật Giáo và vào trường đại học khác mà cô thừa biết nó không hứa hẹn một điều gì tốt đẹp. Có lần cô đùa rằng, cô sống không chủ đích, mặc cho số phận ném mình đi đâu mà nó muốn.
*
Thầy Hạnh Quang ngồi đối diện với Phượng Ly, nhìn sâu vào mắt cô, nói giọng trầm đục:
-         Tại sao lại đến nông nỗi ấy? Con định bỏ dở khoá học này hẳn sao? Chắc không phải do anh chàng trẻ tuổi nào đó chứ?
-         Bạch thầy không ạ! Cô cúi đầu che dấu ánh mắt của mình - Dường như tất cả đều chống lại ý muốn của con. Con muốn tu hành nhưng mọi cái ở thầy quá xa xôi. Con biết ý nghĩ của con là phạm thượng. Con đã đọc thông nhiều bản kinh, ngay như bản kinh Kim Cang được xem là gươm báu chặt đứt phiền não cũng không giúp con dứt được ưu phiền.
Phượng Ly thừa biết thầy mình cũng thế. Phía trên bờ môi phảng phất nụ cười từ tốn điềm nhiên là vầng trán váng vất đám mây muộn phiền vô hạn bởi nhiều lý do chỉ cô biết mà cũng chỉ cảm thấy mơ hồ thôi.
Mấy năm nay cô rời chùa tuy vẫn duy trì chuỗi ngày trường chay. Nhà sư khá buồn và không chờ đợi cô quay về. Thế rồi một lần Phượng Ly cung kính:
-         Bạch thầy, con muốn xuất gia. Ba năm qua cuộc sống với con là cả địa ngục.
-         Con nghĩ vào chùa con sẽ tìm thấy Niết Bàn ư? – nhà sư cười chua chát.
-         Tất cả những hy vọng về một chân trời khác lạ, một thế giới tốt đẹp trong con đều sụp đổ. Ngay nơi Phật đường, mọi lễ nghĩa đều được tính toán sòng phẳng, nó nguỵ trang dưới mọi hình thức, nhưng vẫn ổn hơn bất kì nơi nào.
-         Thầy biết. Không phải ai cũng hiểu được như con. Ngay như trong con tốt - xấu - thiện – ác đều không rạch ròi.
-         Thầy không biết hết đâu. Con là một đạo hạnh nhưng mọi tạp niệm thế tục bên ngoài thổi vào chùa này làm con thay đổi. Đúng vậy, giá thầy đừng cho con tiếp xúc với đời sống thế tục, thầy cách ly con. Từ lâu con đã nổi loạn, con ngấm ngầm chống lại thầy. Con không tin vào sức tác động lớn lao ở những điều thầy thuyết giảng. Con không thích lễ lạt hay vô số nghi thức khác mà nhà chùa đặt ra. Tuy nhiên, bây giờ con đã về. Con sẽ làm người xuất gia, nguyện giữ đúng giới luật nhà chùa. Con xin thầy dung nạp con, thử thách con. Ở ngoài kia một khi con ngã không có ai nâng con dậy mà sức con thì có hạn. Thầy biết rồi đấy, con dễ tự sát lắm.
Nhà sư tư lự:
-         Ngã và đứng dậy, đòn ấy ta quen hơn con, còn con là phận gái. Ta sợ con không chịu nổi lâu dài nỗi khổ hạnh của đời tu hành. Con chạy trốn nơi nào cũng không dứt được khổ đau đâu.
-         Thế thầy khuyên con thế nào?
-         Con đi đi, học tiếp những gì cần học. Bao giờ gặp bất trắc, hãy báo ta.
-         Tại sao thầy không thu nhận con lúc này?- Phượng Ly thắc thỏm hỏi.
-         Vì con không có đức tin! - Thầy Hạnh Quang lúng túng.
-         Thế thầy có đức tin không? - Phượng Ly mai mỉa.
-         Ta thì có đấy! – Nhà sư lẩm bẩm quay đi.
*
Phượng Ly sống không xa nhà sư bao nhiêu. Cô vẫn trao đổi thư từ với thầy. Càng ngày cô càng thấy ra những mâu thuẩn và nguỵ biện trong những bài thuyết giàng của thầy. Trong khi đó ông theo dõi từng hành vi tâm lý của cô và ông hốt hoảng thật sự khi thấy cô tàn nhẫn với bản thân. Ông tuyệt vọng nhìn cô bước đi trên một đống đổ nát: luân lý, giáo điều, tri thức, đạo đức, dục vọng, niềm tin,... Cô đập phá tan hoang tất cả nền tảng tạo nên đời sống tinh thần cô mấy mươi năm qua. Ông kinh hãi khi chợt nghĩ rằng một ngày nào đó cô phóng hoả đốt chùa. Cô nói với ông dịu dàng nhưng ông có cảm giác cô cứa dao vào lòng ông:
-         Bạch thầy! Con mong chiếm mọi đỉnh cao với bất kỳ giá nào. kẻ làm cha con chắc có dòng máu chinh phục. Thầy có biết ông ta là ai?
-         Không. Nhưng trên đời này còn ai đó hiểu con thì kẻ đó là ta đấy, con thương yêu ạ!
-         Là thầy? ồ, không đâu. Con nghĩ thầy đã chai lì. đối diện với con nhiều khi thầy làm như kẻ vị tha. Tuy vậy, thầy biết về con tường tận quá. Con chán lắm. Một chàng trai thích con. Con biết con không thể dịu dàng như mọi cô gái khác. Những áp lực xung quanh càng khiến con phải xù gai lên để đối phó. Anh ta bảo con là bệnh nhân tâm thần đa nhân cách. Anh ta tin tình yêu sẽ hoá giải cơn cớ này. Chưa hẳn. Hồi ở chùa con luôn nổi loạn, song con chủ trị được con mãnh hổ trong mình. những lúc đó con thèm chọc phá thầy dễ sợ. Con ghét vẻ bình tĩnh của thầy: vừa lạnh lùng, vừa giả dối ích kỷ. Thầy tưởng con tin vào tấm lòng của thầy sao. Con ước được nhìn thấy thầy ngã gục, tận mắt thấy thầy lãnh đủ đòn thù định mệnh, lúc đó con cười khẩy vào mớ thuyết lý suông của thầy.
Nhà sư cau mày:
-         Những gì con phản ứng về ta, ta chịu được. Thực tình ta không muốn con gặm nhấm hận thù như thế. Những sức ép bên ngoài đối với con không liên can gì với ta. Con đừng vì thế mà làm tổn thương ta. Trong sâu xa tình cảm ta dành cho con đều xuất phát từ tấm lòng chứ không phải do mối liên hệ tầm thường bèo bọt nào.
Một con quỷ cựa quậy trong Phượng Ly. Cô từng nghe thầy đã dùng những lời lẽ như thế trấn tĩnh bao nhiêu người và họ thoã mãn. Cô biết thầy bao dung. Thầy không ve vuốt bản thân và cô cũng biết mình chờ đợi ở thầy điều vượt quá khả năng thầy. Bản thân thầy cũng chỉ là sinh linh đầy bất trắc. Nghĩ thế, cô bỗng thấy thương xót thầy. Hẳn thầy không cứu vớt được linh hồn thầy.
Song nỗi hằn học thâm căn đối với thầy khiến cô nghĩ ra mọi cách hành hạ thầy thích đáng. Cô nói với thầy:
-         Con sẽ tìm đến tình yêu ở những phường gian ác hạ tiện nhất. trong sự liều lĩnh ấy chắc con sẽ tìm thấy nhiều khoái trá và chút gì đó như phúc lạc. Con có vong thân, đoạ lạc cũng thây kệ. Chắc thầy cũng chẳng vui hay buồn. Thầy đừng dằn vặt gì hết, đừng bao dung, độ lượng quá, con không xứng đáng với tình thương của thầy. Con vĩnh biệt thầy để tự đi con đường của con.
-         Con ta, ôi, Con ta! Sao con không thương ta? - Thầy Hạnh Quang đau đớn những khi không có mặt cô.
*
Phượng Ly lúc nào cũng muốn chối bỏ chính mình. Cô căm ghét sự tồn tại của mình. Cô trút nỗi niềm ấy vào thầy Hạnh Quang. Có lẽ cô cũng yêu thương thầy theo cách của cô, nhưng cô không biết bày tỏ tình cảm của mình và mỗi khi có ý định ấy thì cô cảm thấy sợ hãi, hình tướng thầy tu của ông là một thành luỹ ngăn cách mọi liên đới cảm xúc. Thế rồi cô đâm ra cáu kỉnh, hung hăng. Cuối cùng cô đã giáng ông một đòn nặng nề và ông ngã gục. Cô ân hận thật sự, song đã quá muộn.
Thầy Hạnh Quang luôn tin Phượng Ly có một tâm hồn thánh thiện, cao quý. Trí tuệ, bản lĩnh cô làm ông tự hào. Thế nhưng cô khiến ông cay đắng và nhận ra rằng: cô là một con người vô hạnh.
 Phượng Ly không hay biết gì về nỗi tuyệt vọng của thầy Hạnh Quang, ngay cả cái chết của ông; hơn một tháng sau cô mới nhận được tin.
Cô nói với tôi:
-         Thế mà em là con thầy đấy. Ngày ấy mẹ em là một ni cô. Thầy yêu mẹ. Khi biết mẹ có thai, thầy muốn cùng mẹ trốn đi xa. Mẹ thương thầy, sợ thầy liên luỵ mới trốn đi một mình. Mẹ sinh em và một mình nuôi em suốt mấy năm trời cho đến khi gặp cha dượng em bây giờ mẹ mới mang em đến trả thầy. Mẹ muốn bằng con đường tu hành em sẽ chuộc lại những lỗi lầm của mẹ, hay có thể vì nguyên nhân khác em không biết. Mẹ em mới ấu trĩ làm sao, cả thầy nữa. Em thờ ơ với tội lỗi của họ, kiếp số của họ. Khi biết cha đẻ mình là ai, em dửng dưng hoàn toàn.
Phượng Ly đưa tôi xem bức di thư của thầy hạnh Quang. Tôi lấy làm lạ, cô coi tờ di thư như một tờ giấy lộn vô giá trị, cô cũng không hề mặc cảm mình là đứa con rơi.
Cho đến bây giờ tâm trí cô vẫn mãi lang thang tìm lại ngôi nhà trong mơ. Cô dè dặt với tôi hơn khi thấy tôi lao theo cuộc kiếm tiền, tiện nghi và những người đàn bà. Tôi không biết cô hạnh phúc hay bất hạnh trong cuộc tìm kiếm bí ẩn.... Tôi cũng từng có một xuất phát điểm giống cô. Tôi vẫn thường mơ thấy một vị nữ hoàng toàn mỹ, nhưng không giống cô, người ấy là mẹ tôi. Thế nhưng tôi biết mình đã thất lạc người. Tôi còn phải lo kiếm nhặt bao nhiêu thứ trên mặt đất này và tôi kiệt sức lắm rồi....
                                                LTT

TẠP GHI

LŨ ĐẦU MÙA
Lê Thu Thùy

          Con lụt đầu tiên trong năm, nước xâm xấp đầu ngõ, đám con nít đã dô hò chặt chuối đóng bè xuôi ra tận cửa sông. Cách đây chừng một tháng, cha tôi nhờ mua dầu rái về sơn trát lại chiếc ghe, đan, lận, sửa chữa lại những nan tre bị hỏng. Nước lụt mang phù sa về bồi đắp ruộng đồng. Vài ba năm không lụt coi như đất đai hết chất màu. Nhưng lụt lớn quá thì thiệt hại khôn lường.
Hơn nửa năm không có đợt mưa lớn nào. Những tháng hè nắng hạn cháy khô cánh đồng lúa, vào cuối mùa gặt trời có mưa lác đác nhưng mưa chỉ đủ làm ướt rơm rạ dăm ba ngày, còn thì nắng đổ lửa.
Đã cuối tháng chín, mấy cơn bão đi qua. Hồi tháng tám, bão đánh tốc mái nhà, vỡ cả hàng ngói. Nước trút như thác nhưng chỉ mưa gió một ngày một đêm là dứt. Hơn 10 năm nay, vào mùa mưa lũ, việc gieo trồng, sản xuất lúa vụ ba bị bỏ hoang. Mà bỏ cũng phải thôi. Ngập lụt thì mất sạch.
Tuần trước dọn vườn trồng một vạt rau. Giống rau tối kị ngập úng. Mọi việc chưa đâu vào đâu thì tin dự báo thời tiết sắp có mưa to gió lớn và bão đang tiến vào địa phận tỉnh Quảng Nam.
Cả ngày hôm kia ngồi ru rú trong phòng nghe gió giật từng cơn. Mới qua 2 ngày mưa mà sau một đêm tối mày tối mặt vì mưa trút khắp hè sau, hiên trước. Mưa tầm tã suốt đêm. Nước tạt vào tận bàn viết. Gió lớn đập vỡ một cánh cửa, nhìn ra vườn, mấy cây đu đủ bị gãy đôi.      
Sáng ra nước lênh láng. Nghe mấy đứa con nít gọi nhau ơi ới ngoài đường rủ nhau đi lội nước lụt mà nhớ cái thời cha mẹ mình cực khổ vật lộn với lụt lội. Hồi còn nhỏ mẹ vẫn dặn đừng dầm lũ, nước bạc ăn chân. Có ai sợ nước bạc ăn chân. Chỉ chưa biết sợ đời quăng quật mình giữa bão cuồng mưa lũ. Một thời trẻ dại sống hồn nhiên giữa lũy tre làng cứ mỗi khi nước lụt là thả ghe bơi quanh xóm rong chơi. Ngay cả giữa cảnh người người gọi nhau giữa bão bùng thác lũ, nước dâng cao, vào nhà ngập sâu cả mét, trâu bò heo gà thóc lúa bị lũ cuốn trôi vẫn không làm mất đi cái vui của những ngày sau lụt. Nước rút, mọi người thi nhau tạt nước dội bùn non, hỏi han nhau. Nhưng đó là những cây lụt lớn vào cuối tháng mười. Lũ đầu mùa bao giờ cũng đem lại niềm thích thú.




Sáng nay nước lên phải lo nhổ đậu, dọn rau. Lội bì bõm ngoài vườn suốt buổi sáng chợt nghe có người rao bán lạch.
          Năm nào cũng vậy, vào đầu mùa mưa là nước ách (nước ếch). Ếch nhái, ễnh ương cứ uềnh oang. Tiếng kêu loài ễnh ương vang rền trong đêm mưa sao mà não nùng. Cánh đàn ông cầm đèn soi ếch vào tận bàn thờ. Ếch là một sinh vật dại khờ. Vậy nên mới đầu mùa mưa toàn họ nhà ếch đã nhanh chóng làm mồi cho bọn soi ếch. Không ăn được thịt ếch nên tôi không biết ếch ngon đến cỡ nào. Chỉ tội nghiệp những sinh vật hiền lành này. Nắng lâu, gặp những trận mưa, ếch lớn, ếch nhỏ trong hang hốc nhảy ra đón cơn mưa kêu vang. Sung sướng chưa được mấy hồi đã bị loài người bắt làm thịt.
Những cơn mưa lớn khiến nước sông tràn bờ, làm ngập đồng ruộng, bãi bồi. Khi con lụt đầu tiên đổ về sông Bà Rén là dân vạn chài ven sông gọi nhau đi thả rớ đáy. Cả vùng trắng xóa trong màu nước, các loài thủy sản từ thượng nguồn đổ dồn ra biển, nghề rớ đáy thu được đủ loại tôm cá tươi ngon, đặc biệt trong đó có loại lạch huyết màu đỏ thẫm.
Vốn lăn lộn với nghề sông đã thành quen nên khi nước lụt tràn về, người dân quê tôi không mấy người lo lắng. Ngược lại, có khi họ còn hồ hởi, vui mừng vì cá, lạch theo nước lũ tràn về, tha hồ mà đánh bắt.

Cha tôi vốn thèm món cháo lạch nhất trên đời. Nhớ lại hồi còn nhỏ, mỗi lần đầu mùa lũ, cha vẫn chờ mua những xô lạch đem về cho mẹ. Lạch huyết dùng để chế biến các món ăn rất bổ dưỡng, đặc biệt là bổ máu.

Giờ đây tôi phải làm món này cho cha. Tôi chưa biết phải nấu như thế nào. Còn nhớ hồi nhỏ nhìn những con lạch lúc nhúc từng dề, mấy đứa con trai tưởng như thấy phật tiên làm phép lạ, chúng hò reo la hét và nhào tới đưa tay vớt từng nắm lạch với một niềm hả hê.
Lạch (còn gọi là lịch huyết) là loài thân trơn, mình dài, đầu nhọn sống trong các hang hốc nơi thượng nguồn các dòng sông, chủ yếu ở khu vực miền Trung. Con lạch trông giống con lươn nhưng ngắn hơn, nhỏ hơn, bình thường nó to bằng chiếc đũa và dài gấp rưỡi chiếc đũa. Người ta chỉ đánh bắt được lạch khi có nước lũ đầu mùa đổ về. Bị dòng nước lũ sục bùn đục ngầu, những con lạch huyết sống dưới đáy bùn trồi lên. Mùa mưa là mùa lạch tức trứng, chúng chui ra từ các hang hốc bơi tung tăng trong lòng sông để giao phối và bị cuốn xuôi theo dòng nước về nơi hạ nguồn. Những con nước chảy ào ào từ thượng nguồn trôi về xuôi cuốn theo từng đàn lạch bụng căng trứng, kết thành dề. Ngư dân vùng hạ lưu chỉ cần lấy lưới cào hoặc rớ đáy hoặc chỉa để bắt.
Nhìn những dề lạch nhơn nhớt trơn tuột trượt trên tay người bán và ai ai cũng trầm trồ tôi vui lây. Mua được một ký lạch suốt buổi trưa phải đi lùng khắp chợ mới tìm được được ít măng khô. Ngày xưa hễ có lạch là cha tôi ra bụi tre chặt ngay một mụt măng. Lạch um măng với cha tôi là món hảo hạng mà trong đời cha chưa thấy thứ gì ngon hơn. Làng tôi làm gì còn măng với tre. Nơi cuối vườn ngày xưa có lũy tre bây giờ là con đường bê tông.

Thấy nhúm măng khô cha tôi cười bảo cha răng rụng hết rồi, không nhai được măng, ông mua lạch về để tôi nấu cháo. Mà cháo lạch là gì với cha lại ngon đến thế. Chỉ biết những dề lạch theo nước lũ trôi sông hình thành tên con nước đầu mùa: NƯỚC LẠCH và cứ vậy hàng năm lạch trôi về được đánh bắt đem bán dạo khắp xóm dưới làng trên.
Tôi được chỉ dẫn rằng người ta không dùng nước sôi mà dùng tro bếp, nước chanh hoặc khế để làm sạch nhớt của lạch, cách này giúp làm chúng sạch, đánh bay mùi tanh, thịt không bị cứng. Lạch được luộc mềm, vớt ra, gỡ lấy thịt, ướp gia vị bắt lên chảo um. Khi nấu cháo sôi để nhỏ lửa liu riu cho cháo chín, thỉnh thoảng khuấy đều cháo, rồi cho lạch um chín vào nồi cháo đun nhừ. Cháo lạch phải ăn lúc còn bốc khói thơm lừng, kèm nhiều rau thơm, và tiêu, ớt.
Có năm quê tôi hứng đến 10 trận lụt, có năm không lụt trận nào. Thường mưa lớn lũ trên nguồn về thì có nước Ách, nước Lạch, rồi nước Cá. Những con lũ nhỏ đầu mùa, khác lạ là nước Lạch, vui nhất là nước Cá. Những con cái bụng mang đầy trứng, gặp lúc lũ lên, nước mưa trong khe suối, ao hồ tràn ra là lũ cá cái và cá đực ngược nước vượt lên tìm nơi đẻ trứng. Khi nước tràn qua đường, vào xóm, chảy ra đồng, lũ cá rô, cá diếc, cá tràu, cá ngạnh, cá chép... theo con nước hồn nhiên bơi tung tăng dạo chơi. Lũ cá ức nước không biết tai họa giăng khắp nơi. Bao nhiêu là lưới, lờ, đơm, đó… tóm gọn chúng đem về chế biến lên mâm, lên bát.
         
                                                LÊ THU THÙY 

TÙY BÚT


MƯA MÙA XUÂN NUÔI LỚN DÒNG SUỐI XUÂN
                                                                                 Lê Thu Thùy
         Vào thế kỉ mười bảy, thi hào Basho đã tạo cho bài thơ Haiku hơn mười âm tiết một vẻ đẹp đơn sơ nhưng đầy kì diệu:
 “Năm dặm mỗi ngày
Ta đi tìm em đấy
Anh đào yêu dấu ơi!”
                 (Basho)
Trên đường tới Yoshino để ngắm hoa anh đào, thi hào Basho đã soạn bài haiku trên. Ở Yoshino, ông mê mải ngắm hoa anh đào lúc tinh mơ, lúc hoàng hôn hay vào nửa đêm. Nhưng chìm ngập trong hoa, Basho không còn viết gì về hoa anh đào được nữa.
Nhưng Basho đã để lại những bài Haiku viết về mùa xuân càng kì diệu hơn
“Mưa mùa xuân
Xuyên qua từng chiếc lá
Nuôi dòng suối xuân trong”
                            (Basho)         
Những bài thơ nhỏ bé, cô đúc như “ngón tay chỉ mặt trăng”, đưa chúng ta vượt qua giới hạn của ngôn ngữ để tiếp cận với thực tại. Mỗi người chúng ta, tùy theo trải nghiệm sống của riêng mình, có thể kinh ngạc hay đồng cảm với nỗi niềm của tác giả.

Một chiều tôi ngồi một mình nơi góc phố cổ, nhớ về một bài hát xưa, hình dung dáng xưa tôi của quá vãng trong màu áo trắng tinh khôi. Còn đâu đó một thiên thần, để đêm đêm hiện về giữa từng giấc mơ. Thiếu nữ ấy vẫn sống trong hiện tại của tôi, mặc dù giờ đây, thực tại phũ phàng và chua xót. Thời gian đang tàn phá nét thanh tân yêu kiều.
“.…Mùa xuân sang có hoa anh đào
          Màu hoa đây dáng xưa còn đâu…”
          …
          Tôi biết anh khi đã đi gần trọn 30 mùa hoa anh đào nở. Cám ơn anh đã ưu ái một cành hoa còn thoảng chút hương phai, hoa rơi khỏi cành để gió cuốn đi. Tôi liên tưởng đến anh và những điều anh nói về hoa anh đào.Từ lúc hoa nở cho đến lúc hoa rụng chỉ kéo dài trong một tuần ngắn ngủi, người Nhật cho rằng đời người là mỏng manh, vô thường như loài hoa này. Hoa nở rồi sớm tàn phai cũng mang một vẻ đẹp đặc biệt, hoa chỉ tàn khi nó đẹp nhất, cái đẹp thuần khiết và cao cả. Điều này gắn liền với niềm bi cảm về cái đẹp của dân tộc Nhật, tức trong cái đẹp đã hàm chứa nỗi buồn sâu xa. Cả trong nỗi tuyệt vọng ta cũng tìm thấy cái đẹp của nó.
Nhưng nơi anh sống không phải là nước Nhật mà là Thụy Sĩ. Tôi từng muốn anh gửi cho tôi những hình ảnh của anh bên cội hoa anh đào xứ Thụy Sĩ xa xôi. Tôi mang nỗi quan hoài của một cô gái đi tìm hoa anh đào trên đất Thụy Sĩ, tôi chỉ gặp những bức tượng sư tử đá bi thương và buồn thảm.


Anh kể tôi nghe về những năm tháng trước 30 tháng 4 năm 1975. Hồi đó anh chưa đến trường. Ba anh mất khi anh mới chào đời. Nơi anh sống thời thơ ấu là vùng đất Đà Lạt mù sương. Ngày xưa, trên mồ ba anh người ta trồng những cây hoa anh đào, và trong sân nhà anh hoa anh đào nở đẹp não nùng.
          Tháng tư năm 1975, anh theo mẹ xuống tàu di tản, anh mới tròn 6 tuổi. Anh vẫn còn nhớ mùa xuân năm đó hoa anh đào nở rực rỡ con đường nhỏ và góc sân nhà anh. Không biết ai đã đem giống hoa anh đào về trồng trên đất Đà lạt mà xứ sở sương mù trở thành vùng đất hoa anh đào của Việt Nam?
          Truyền thuyết Nhật Bản kể rằng: Hoa anh đào được sinh ra từ thanh bảo kiếm của một Samurai dũng mãnh tại núi Phú Sĩ, sau khi chàng dùng thanh kiếm này kết liễu đời mình ngay tại mộ của người yêu mình. Và cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng không có nơi nào có sắc hoa anh đào đẹp hơn ở núi Phú Sĩ.
          Tôi không sớm nhận ra cái chết trong một điều tuyệt vọng như những chuyện được kể trong truyền thuyết xa xưa của xứ sở phù tang, rằng chàng samurai có thanh kiếm sắc. Chàng khao khát thanh kiếm của mình ướp trong máu người thì mới trở nên báu kiếm vô địch thiên hạ. Buổi thái bình không ai gây nợ máu với ai, thanh kiếm của chàng sẽ đến ngày hoen rỉ. Chàng trai ủ ê ngày đêm ôm thanh kiếm mà mơ màng chiến tích. Người con gái yêu chàng đã cầm thanh kiếm đâm xuyên qua người để nó được uống no máu nàng hóa thành báu kiếm. Nhưng nàng chết chàng cũng chết theo. Chàng đến bên mộ nàng trên núi Phú Sĩ dùng thanh kiếm kết liễu đời mình. Thanh kiếm báu được chôn theo chàng hóa thành cây hoa anh đào. Loài hoa biểu tượng của tình yêu và thái bình.

          Nhà thơ nổi tiếng Nhật Bản Saigyo là kẻ cuồng hoa, được gọi là “nhà thơ của hoa anh đào”, mong muốn được chết dưới cội hoa anh đào vào đêm trăng rằm mùa xuân và kỳ lạ là điều ước của thi nhân đã trở thành hiện thực. 
         
Tôi chưa từng hò hẹn anh dưới hoa anh đào, một loài hoa biểu thị cho linh hồn Nhật Bản, nơi người Nhật gửi gắm bao nhiêu tư tưởng triết học và mỹ học của mình vào những cánh hoa bé nhỏ mong manh. Anh trong tôi mãi là một cậu bé 6 tuổi theo mẹ dọc đường hoa Đà Lạt, một ngày cuối tháng tư năm 1975, hai mẹ con xuống tàu di tản, ngày ấy hoa anh đào bung nở. Những cánh hoa tung bay trong gió, những cánh hoa phủ đầy mặt đất trên những lối đi, những cánh hoa trôi lững lờ trên sông. Đẹp và buồn.
          Chiều chủ nhật trước tôi lên núi Bà Nà tìm một cành hoa anh đào nở sớm bởi năm nay rét đậm, khắp các mặt báo tràn ngập hình ảnh hoa anh đào. Nhiều nơi trên đất Việt Nam: Đà Lạt, Sa Pa, Điện Biên, Hà Nội… anh đào bung tỏa hết sắc đẹp. Thế nhưng, bất chấp những nỗ lực của tôi, suốt 2 ngày chủ nhật của tuần trước và tuần này, hết lên núi Bạch Mã rồi Bà Nà, anh đào vẫn chưa chịu nở cho tôi được một lần buồn bên cánh hoa tượng trưng vĩnh cửu cho vẻ đẹp ngắn ngủi phù du kiếp người.


          Tôi đang nghĩ về anh, đây chưa hẳn là ái tình, nhưng sâu xa hơn tình yêu, nó mang niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng, ẩn chứa bên trong một thứ sức mạnh kỳ lạ - sức mạnh không ập thẳng vào mà chìm đắm trong tâm hồn người ta. Nó như sức nóng của suối khoáng hay lửa đốt trong lòng của rượu sake của người Nhật, mang đến cả nỗi đau buồn và niềm khuây khỏa, ngang bằng nhau. Khi người Nhật đau buồn vì thảm họa, những cánh hoa anh đào mong manh duyên dáng lại là biểu tượng của samurai, là hình ảnh cô đọng nhất về lòng dũng cảm Nhật Bản.
Các võ sĩ Nhật cũng được ví như hoa bởi họ không bám chặt lấy cuộc sống, họ xuất hiện như hào quang hư ảo, chết ở đỉnh điểm của sự huy hoàng, rực rỡ.
Trong thế gian này chẳng có gì là mãi mãi. Tất cả đều vô thường và phù du, ngắn ngủi. Bởi vậy người Nhật yêu hoa anh đào vì sự rụng rơi đúng lúc đẹp nhất của hoa như một biểu tượng mỹ học về cái chết. Trong các bài chiến ca, ta cũng nghe ra hình ảnh hoa anh đào tượng trưng cho những người chiến sĩ “tôi cùng các bạn, là hoa anh đào cùng mùa, nếu hoa đã nở thì chắc phải có ngày rụng rơi, hãy ý thức được điều đó, hãy rơi cho đẹp đẽ, vì quốc gia” (“Hoa anh đào cùng mùa”, Saijou Yaso sáng tác)

Khi đến với nhau để ngắm hoa anh đào, người ta không chỉ say đắm với vẻ đẹp của hoa, mà còn trân trọng những khoảnh khắc của cuộc đời mong manh và quý báu.  Chúng ta cần phải tranh thủ từng giây từng phút có được để sống.
          Trở lại với những vần thơ haiku:
Gió xuân
Con đường đê dài
Quê nhà thăm thẳm”
                   (Buson)
 hay
“Nhìn về quê hương
Xa xăm quá đỗi
 Đóa  hoa anh  đào rơi”
                      (Buson).
Sự rơi của hoa và ước vọng của con người có tương quan gì với nhau? Hay đấy chỉ là một lẽ đời.
Đêm xuân
Những con sóng yên lặng
Vỗ tràn nơi gối chăn”

Thấm thoắt đã 30 năm. Chiều mồng 5 tết, tôi một mình thơ thẩn nơi công viên Hoa anh đào ở Hội An. Nơi đây người Nhật đã tài trợ cho Thành phố Hội An tiền bạc để xây dựng công viên Việt Nhật và ngôi đền hoa anh đào. Mọi thứ nơi này đều tươi mới. Bất ngờ với tôi, những ngày cuối năm, Hội An đã đưa về 12 cây hoa anh đào đang bung nở. Xuân đến đã làm vô số nụ hoa anh đào nở rộ, những cánh hoa thi nhau nhảy múa theo một điệu nhạc vô thanh được cất lên từ những làn gió nhẹ. Trong cái lạnh giá và bầu trời như tấm phông màu xanh vĩ đại. Cánh hoa anh đào như những cánh hoa tuyết, có nhiều lúc, hoa rơi như mưa, làm thành thảm hoa, suối hoa, hắt sáng mặt đất. Dù nở lúc thái bình, hoa cũng mang đến nét buồn phảng phất giữa không khí hội hè, bởi nó rụng đúng độ nhan sắc tuyệt mỹ.
                                                                                                Lê thu Thùy


TÙY BÚT


Lê Thu Thùy
VIẾT CHO NGƯỜI NẰM XUỐNG
                           H
Trên bàn tôi là tập bản thảo cuốn tiểu thuyết XÔN VE. Cuốn sách được nhà văn Hòang Minh Nhân viết trong những năm tháng anh làm báo tại chiến trường Campuchia. Cuộc chiến tranh tàn khốc giữa bộ đội tình nguyện Việt Nam và nhân dân Campuchia chống lại tập đòan phản động Pôn Pốt Iêng xa ry, giải phóng đất nước Campuchia đã được một nhà văn trẻ Việt Nam viết với tinh thần của một người trong cuộc. Tôi ngồi nhập liệu và biên tập từng trang sách ngay những ngày cuối đời của anh và những ngày sau khi anh qua đời. Nỗi buồn bủa khắp căn phòng trọ nhỏ hẹp của tôi. Vậy là hơn một phần tư thế kỷ kể từ ngày anh khởi viết tiểu thuyết Xôn Ve, bạn đọc mới biết đến nó.
Một chiều đi tìm nhà Hòang Sơn Trà con trai đầu của anh để thắp cho anh ném nhang, tôi nghe trên mỗi mét phố Đà Nẵng dòng vô thường xuôi chảy. Ngấm vào tim tôi là một nỗi thương đau mất mát không bao giờ tìm lại được. Vẫn ngôi nhà trên đường Lý Thái Tổ kia, nơi nhiều năm từng là TRUNG TÂM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC TẠI MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN, cũng còn là văn phòng đại diện tạp chí Văn Hiến tại Đà Nẵng, ngôi nhà quen thuộc với tôi đến độ, giờ đây, nhà đã sang cho chủ khác, anh đã nằm sâu trong lòng đất và những người thân trong gia đình đã dọn về nơi ở mới, những hiện vật cũng được dời đi vậy mà tôi cứ như còn thấy anh, chị Bảo Bình và cả chính tôi cùng mấy cháu nhỏ cháu ngọai và con gái của anh chị quay quần bên mâm cơm: cơm ngon, tình người ấm áp, mọi đồ vật cứ hiện ra trước mắt. Bao giờ ở nhà anh chị về tôi cũng tràn ngập tin yêu. Trên đời này không còn ai tốt hơn anh chị.
          Nước mắt tràn qua má, chảy đến ngực, tôi khóc trong nỗi buồn chết lặng và chính lúc này đây, ngồi viết những dòng về anh tôi lại khóc. Đã có lần tôi ngồi trước mộ anh, tôi đã mang đến một vòng hoa, hương hoa tinh khiết làm tâm hồn tôi nguôi dịu. Ngày còn sống, dù là một người cộng sản nhưng anh đã tin Phật, tôi chỉ nguyện cầu anh được siêu thóat về cõi cực lạc. Những tập thơ, văn tuyển anh để lại là vòng hoa vĩnh cữu của lòng đời. Trần gian đầy khổ đau và ngập ngụa nước mắt, anh đã sống một đời hồn nhiên như cây cỏ, dù vào sinh ra tử trên khắp mọi nẻo chiến trường anh vẫn giữ tâm hồn trong sáng như trẻ thơ. Ở đời không có hai người như anh.
          Tôi có cơ may là từng biên tập nhiều cuốn sách của anh, và nhờ thế tôi đọc hầu hết những gì anh viết. Những ngày xưa còn thơ dại, tôi đã rong xe đạp ra ngôi nhà cũ của anh ở Bắc Mỹ An, hồi đó nhà anh có một tủ sách cho thuê, và anh đã tặng tôi tập mây bán đảo, thơ Khi yêu chẳng có lời thề, nhiều năm sau tôi biên tập hàng loạt cuốn sách về các anh hùng, văn nhân đất Quảng mà anh chủ biên như Hồ Nghinh, Phan Bôi Hòang Hữu Nam, Phạm Hầu, Phạm Khôi, Hùynh Thi Thanh, Những trang đời huyền thọai... trong ngôi nhà ở Điện Ngọc. Nơi ấy giờ đây mỗi ngày một hoang vu. Chủ nhân ngôi nhà đóng cửa đi đâu không ai biết. Ba lần tôi đến đó, nhìn cây cỏ phủ ngập vườn, sân gạch rêu phong,... ngôi nhà càng thêm tĩnh mịch. Chính trong ngôi nhà đó tôi đã sống hàng năm trời đọc, biên tập và viết,... nhìn hình bóng cũ xưa vụt qua như bóng mây, bọt nước. Lòng nghĩ tưởng đến những thân thương, thời gian cùng những biến dịch, đổi thay của dòng đời cũng là ngôi mộ ủ kín, chôn vùi bao kỉ niệm của tuổi hoa niên.
          Tất cả những hình ảnh nơi ngôi nhà xưa của anh giờ đây trở nên thiêng liêng với tôi.
Cơm áo không đùa với khách thơ. Anh đã thường xuyên thay đổi chỗ ở, nhà cũng bao phen mua đi bán lại, tôi đã từng thăm chơi trong ngôi nhà anh thuê trong chung cư Hải Hồ, nơi đó anh làm cuốn Cơn lũ và bông hoa bạc, người tên đá tên cây,...
          Sẽ sống mãi với thời gian là tuyển tập thơ văn Hòang Minh Nhân, anh viết vào những ngày mới vào chiến trường miền Nam mà Đức Phổ (Quảng Ngãi), Hòa Vang (Quảng Nam – Đà Nẵng) là nơi anh gắn bó lâu dài hơn cả và cả những sáng tác cuối đời của anh cũng được đưa vào sách. Ở đó anh “lộ thiên từng trang sách minh họa” (chữ của nhà thơ Đông Trình), dù ai cũng biết rằng minh họa cái khốc liệt của thương đau mất mát, cái buồn nhân thế, cái phù du của kiếp người là điều không dễ và anh đã viết thành công. Đôi mắt anh nhìn cuộc đời dịu dàng, yêu thương, chia sẽ trong mỗi khỏanh khắc được tái hiện lên trang thơ càng đáng trân quý.

          Xôn Ve là cuốn tiểu thuyết để đời của anh. Tôi đã đọc bản thảo hàng trăm lần. Tôi đau xót hiểu ra chỉ khi anh về bên kia thế giới người đời mới biết đến tác phẩm này. Xôn Ve đã thức động ngừơi đọc nỗi đau đớn. Tôi đã buốt lạnh trong tim bởi tình đời tình người, đã chết trong lòng bởi sự độc ác của con người, thế nhưng cái khốc hại của hiện thực trong tiểu thuyết Xôn Ve buộc tôi phải hiểu rằng: có một thứ địa ngục trần gian Hòang Minh Nhân đã dấn thân vào rồi tái hiện. Những tia sáng nhạt nhòa trong đêm tối chiếu rọi trên nỗi buồn của tôi. Như vậy anh đã sống qua những hòan cảnh đó, nơi ngôi làng nhỏ dưới chân núi Pha Biên, hoặc anh đã là chứng nhân, tận mắt chứng kiến tội ác của lính Pôl-Pốt trong các công xã Ăng co. Lạ một điều là sao lúc nào anh cũng hồn nhiên, anh như một đứa trẻ dễ khóc dễ cười trước cả những đau buồn tầm thường vụn vặt mà tiểu thuyết Xôn Ve được anh viết thản nhiên như thể, anh đã có một tâm thế cao hơn những nhà văn cùng thời đại mới có một cái nhìn trầm tĩnh trước bao biến cố lịch sử và phản ánh được thảm họa diệt chủng mà chỉ phép lạ hồi sinh ở thời tương lai mới đổi thay theo chiều hướng tốt đẹp trong số phận từng con người bất hạnh trên đất nước Campuchia vào những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ hai mươi.
          Ngồi nhìn lại những bức ảnh tôi chụp anh trong lần cuối tôi đến thăm vào những ngày cuối đời anh. Hôm đó anh vui một cách kỳ lạ. Anh cho tôi xem một bài báo viết rằng y học ngày nay đã tìm ra lọai thuốc chữa được bệnh tim và bệnh đái đường - những căn bệnh nan y đã hành hạ anh suốt mấy chục năm cho đến lúc chết – Tôi đã vui lây niềm vui của anh và kịp ghi lại mấy bức hình. Trong hình nhìn anh trẻ trung và quắc thước, vẻ phong trần tóat lên trên từng đường nét của khuôn mặt. Ngờ đâu anh lặng lẽ ra đi. Tôi lưu giữ suốt đời hình ảnh ấy, và thời gian, cái chết chẳng bao giờ che mờ được bóng hình anh.
                                     Lê Thu Thùy


THƠ


Thơ Lê Thu Thùy
KHUYA NAY TÔI THẤY

Còn một điều gì đó như là
Nỗi bất hạnh của tôi đã được
một bàn tay bí ẩn lập trình
và giờ đây trong căn phòng trọ chật hẹp này chỉ có
Tôi và một hình bóng đen tối vẫn ngày đêm
ám sát nụ cười trẻ thơ. Hắn gương mặt của
một con chó điên, nanh vuốt ma cà rồng,
và những quái thai hút máu, ngậm máu phun người.
LTT

THÊM MỘT LỜI

Ngày đó anh có thể hiểu biết thông minh hơn em là người đàn bà nghèo nhất trên thế gian này, em may những ý nghĩ muộn phiền ngày đêm và có những tháng ngày mất việc em lang thang gõ cửa chờ bán sức chịu đựng.
Em đã nhận ra anh ngay trong khoảnh khắc em biết anh có mặt giữa cõi đời này và em đã nói với anh về một trời yêu một tình yêu một niềm yêu
và thêm một lời yêu để hiểu lời mình đang giãy chết
Anh chỉ có thể hiểu em không có một ý niệm về một người tình không nhu cầu, trắng tay và thoái nợ.
LTT

ANH CÓ THỂ ĐÃ NGHĨ VỀ TÔI
Giữa tiệc cưới một người xa lạ
ngập tràn rượu hoa và nụ cười tươi thắm của nàng dâu
tôi đã nhìn thấy ánh mắt anh đậu đâu đó
miền tâm tưởng xa xôi, nơi bến bờ tình yêu
của những ngày thơ mà tôi chưa trọn giấc mơ hạnh phúc.
Nơi đó, tôi sẽ theo anh rong ruổi,
du thuyền sóng nước mênh mông
Bao giờ cần một tình yêu anh hãy về trong
giấc mơ êm đềm nhất
dẫu rằng giờ đây bao cay đắng phủ quên
ta trong oi ả trời chiều và tôi đã nghe anh hát,
lời hát buồn buâng khuâng vùi con tim giữa hão huyền nhưng dịu dàng và
anh ở trong niềm nhớ nhung của tôi, niềm nhớ nhung vời vợi, khôn cùng.
LTT

NGÔN TỰ BỒ ĐỀ HOANG

Hãy để những lời nguyền rủa của ta một sớm mai theo cơn gió bay lên đầu đối tượng và ta sẽ im lặng suốt đời như cội bồ đề hoang đứng trên gò đống nơi cồn vắng với những khu mộ địa bị di dời còn sót lại từng cái tên gợi nhớ về những bãi tha ma.
Hãy che mắt đừng để ta nhìn thấy những hài cốt dù rằng bình rượu của phu đào huyệt đã rửa sạch tàn tích của mọi hình hài từng có một thời uống no nhựa sống cuộc đời bằng đôi môi khô khốc và mình ta hình dung gương mặt người đang sống đang tan nát bởi chiến tranh hoặc đang giận dữ vì đau thương và đang choáng ngợp bởi hào quang chiến thắng.
Ta đã đến đây giữa đồng không mông quạnh nghe theo ý nghĩ vô cùng buồn thảm vì cái chết nào cũng khoác thêm chiếc bóng màu đen và không gì cay đắng hơn tro tàn thực tại.
Và ta tiếp tục những lời nguyền rủa vì ngai vàng của các đấng quân vương đã bị mưa thời gian rửa trôi, cả những trái tim vĩ đại, những dung nhan kiều diễm, những sự nghiệp lớn lao, các anh hùng thời đại cũng chôn vùi dưới dòng chảy năm tháng để rồi đôi mắt buồn bã của ta nhìn vào bầu trời bất chợt khi ánh chớp của một lưỡi tầm sét thình lình giáng xuống đánh gục những cô hồn đeo bám ta.
LTT

ĐẰNG SAU “CUỘC SĂN CỪU HOANG(*)”

một mình trong phòng tối, những bước chân tắt dần chinh phục sự im lặng, trên tường tấm gương lớn giam cầm những hình ảnh bất động, các con chữ phóng chiếu, không một làn hương, không một thanh âm, không một đóa hoa quyến rũ và ướp thơm dòng tư tưởng vun vút phi đao.
từng cuốn sách bị dòng tư tưởng đâm thủng, khoét sâu, trượt theo những tia sáng dằng dặc, lẻ loi, lượn lờ trên các vách bờ trên nền cát hoang vu cô quạnh, trên đỉnh núi tuyết lở mà mọi phúc lành không đi xa hơn tiếng thì thầm của xương khớp hòa tan trong gió.
Bầu trời đầy mây, những ngọn núi tuyết lở xa mờ mịt từ một trang sách tình cờ dẫn vào một miền đất cằn cỗi heo hút, một thị tứ đói nghèo băng giá đang đi đến cõi chết và ở nơi đó có một nhà văn mới vào nghề đang rữa mục trong mỏi mệt phù nề...
Và rời rạc, từng chương nghiêng ngã đẩy tôi về phía con cừu hoang với bước chân oai hùng, sức mạnh hoang dã quyền năng tráo trở từng bậc thang uy nghi vung vãi thị oai ngôi sao thống trị vừa chễm chệ ngự trị xác thịt chàng trai tỉnh lẻ dang dở tác phẩm đầu tay chưa qua cơn hoang mang đã hài hước treo mình trên dây thòng lọng.
người đàn bà rời mắt khỏi trang cuối, từng luồng run rẩy luồn qua mỗi ống xương, từ trong gương ánh sáng dịch chuyển như thoáng niệm khởi tình yêu và trên áng mây bập bềnh vầng trăng hư ảo hé mở nụ cười lao xao thảm cỏ xanh non chân trời điểm xuyết mũi đao ứa máu con tim chưa được bọc giáp.
(*)(tên một tiểu thuyết của Haruki Murakami)
LTT

ANH CÓ NGHE LỜI EM HÁT?

Trở về giữa chiều mệt mỏi/ thấy trên những đồi hoang những bóng mờ
tiền kiếp lang thang/ em muốn hát về những nỗi đời đã muộn màng nguyền
ước/ bài hát dưới mưa thời gian/ anh giờ hoang vắng mọi cuộc tình!
Lời hát vào nẻo thiên thu/ em trong hư vô/ em rồi biệt tịch/ những ám
ảnh ngủ quên giờ sống dậy/ anh mãi là khách lạ/ ký ức nào riêng ta?
Không có con đường cho em, cho anh/ lối ta đi bất ngờ, vô định/ lời
hát dưới đất quê máu thịt.
không còn trong anh dù chỉ vọng âm.
LTT

KHÔNG ĐỀ 1

Rồi những ý nghĩ về anh sẽ trôi buồn ký ức/ những con đường anh không
dấu chân em/ bàn tay nào níu anh trong đêm cô đơn bất tuyệt/ đau đớn
lời yêu xé vỡ cõi vô hình.
Anh đã vào miền tĩnh lặng của đời em/ cánh cửa tình yêu mở ra đại
dương dậy sóng/ anh làm sao nhận ra em/ anh xa biệt bờ bên ấy/ và anh
tìm ai giữa bao người con gái khao khát hiến dâng/ vật vã giữa cõi đời
eo hẹp lòng người.

KHÔNG ĐỀ 2

Còn lại với em chiều nay là những mảnh hồn hư vỡ/ chuông đã gióng
vang/ vội vàng lời đáp trả/ người chủ nợ vô danh chưa xuất hiện/ chỉ
thóang mơ hồ một điềm báo không lành.
Gục trên nhưng trang thơ nghe xạc xào giấy bút/ một phân thân ở lại/
nghiêng xuống nỗi buồn/ lau dòng nước mắt/ ru mãi một đời trĩu nặng âu
lo.
Bên ngòai bóng chiều bụi hằn mắt sâu.

KHÔNG ĐỀ 3

Anh chẳng bao giờ nhìn vào mắt em để thấy bóng tối phủ lên mọi hình
ảnh đã chìm sâu dưới nỗi ưu tư vào một ngày tháng bảy khi em dừng lại
giữa đường gõ cửa người thợ may học cách khâu vá vết thương. Những cú
va đập vẵn còn để lại vết bầm trên gương mặt/ và cũng trên gương mặt
em vài vết sẹo nho nhỏ cứ gợi nhớ về bao tai họa, anh chẳng bao giờ
nhìn thấy bước chân họan nạn gõ nhịp trên ngực, trên vai, trên tim,
trên da, trên tóc, trên tuổi,.. trên nỗi muộn phiền ca bài ca về niềm
đau vĩnh cữu ngự trị mà trong một chấn thương bất ngờ em tưởng chừng
như đã được đâỷ vào ngôi nhà bình yên chỉ cần chờ đợi trong khỏanh
khắc anh sẽ đến.
Anh vẫn cư trú bên ngòai những bức tường chật hẹp chỉ che chở em trong
khỏang thời gian được ấn định sẵn.

KHÔNG ĐỀ 4
Buổi sáng
đôi mắt biến hình cái nhìn câm lặng những nốt nhạc chìm dòng quên lãng
nơi một ngày người đàn ông nàng yêu ra đi với những lời tàn nhẫn để tự
giết mình.
Đôi tay ru buồn trên bàn phím/ con chữ đau lòng dịch chuyển trong tận
cùng tuyệt vọng hoa vẫn tỏa màu, thời gian, em vẫn nụ cười vô ưu đậu
trên ngực anh giữa giấc mơ thăm thẳm một vùng tuổi thơ anh chưa sống
trọn những ngày bình yên/ chưa đi hết những đêm giông tố đã cạn kiệt
mạch nguồn.
Đôi môi xa xưa vục vào trang ký ức nát nhàu mối tình vừa chớm/ em
thóat khỏi chiếc bẫy nai mắt ngơ ngác lộc non phủ dụ.
Người đàn ông bất ngờ độ lượng nhặt lên cái cười phũ phàng lay động những khu rừng.

KHI CHIỀU XUỐNG GIÓ QUA CĂN PHÒNG NHỎ

Nơi trang sách vừa mở
Những câu thơ của Goethe hiện ra
Giọt nắng vô tình dịch chuyển
Êm đềm sóng lá vườn cây      
Lũ chim sẻ cũng bất ngờ im tiếng
Lặng lẽ đóa hoa rã từng cánh..
Chậm...
Buồn...
Điệu nhạc
Tỏa hơi rừng
Quán gió
Lời cuối cho em hiện rõ trong ký ức nhạt nhòa:
Gặp lại em là điều không thể,...                    
Vì chỉ chốc lát nữa thôi
Anh phải đến một phương trời
Trên tay anh gió vẫn lùa như suối tóc biếc xa xưa.

MỘT NGÀY NỮA LẠI ĐẾN

Buổi sáng
Thức giấc cùng bình minh
Nghe trong đọt lá non hơi thở khẽ
Cảm giác giữa bàn tay con chim nhỏ chuyển mình.
bắt đầu
Từng động thái đã thành thói quen
Không có em cùng ngôi nhà nhỏ
Đã nhiều năm cô đơn
Anh tựa hồ sống trong lòng biển cả.
Vậy em hãy để cho anh tự do
Nghĩ về em trong giây lát
Không hẳn là tình yêu hay nỗi nhớ.
Khỏanh khắc hòai niệm
Em từ ký ức vút hiện
Đem đến làn hương tinh khiết
làm trái tim anh khuây dịu.

CÂY ĐÀN CỔ

Đó là mối tình tiền định
Ta dâng trái tim với tất cả khát khao
Trên sóng nhạc linh lan
Lời lời hiển lộng

Giờ ta sống trong niềm luyến nhớ
Sao bạn bè ta cũng rời bỏ ta đi

Ta vẫn thường tin ở vinh quang
Vào rạng đông của một ngày lễ hội

Trong đôi cánh thần tiên người đến
Cùng dạo vang trời khúc nhạc hồi sinh

Giờ ta đang thơ thẩn bên đời
Độc tấu bài ca về tình người cao cả

Người sẽ đến dẫu rằng đã muộn
Viết tiếp về lòng độ lượng vô lượng

Ta lại để tâm hồn bay bỗng
Khắp vương quốc âm thanh làm kẻ trị vì.

VIẾT VỀ THỜI ĐÃ MẤT

Bài hát tình yêu nàng đã hát tự bao giờ
Những đôi uyên ương lượn bay trên vòm trời hư ảo
Màu chiều nhuộm tím mắt nâu khắc khỏai
Vài vì sao chợt gần, chợt xa như điềm báo chia lìa

Bài hát tình yêu day dứt tim người
Có lời ca ru hồn người về bến mộng
Những đôi tình nhân nắm tay lên thuyền tình rời bến
Giông tố ngòai khơi chưa chạm đến mạn thuyền…

Thiếu phụ ra đi trong xa vắng nắng vàng
Con thuyền tình mong manh đã vấp đời phàm tục
Nàng như chú chim vừa được phóng sinh vỗ cánh chấp chới,...
Những đường bay thấp cao không dấu vết giữa nền trời.

LÊ THU THÙY 


BÀI Đăng THEO THỨ TỰ NGÀY THÁNG

TRUYỆN NGẮN

TẬP TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC                    TÁC GIẢ: LÊ THU THÙY                            1. NHỮNG DẤU CHÂN MỜ XA               ...