MỖI CÁNH HOA
RƠI MỖI ĐOẠN TRƯỜNG!
Bài của Lê Thu Thùy
I
Nhà thơ Lê Tử Triều
làng chúng tôi tự sát sau ngày 30/04/1975 hai tháng, để lại vài tập thơ mỏng
manh hồi nhỏ có lần tôi đọc được. Đàn con mồ côi cha mẹ của ông lớn cùng chúng
tôi theo năm tháng. Họ không nhập tâm những vần thơ đói nghèo, đen bạc, thương
thân, tủi phận của cha. Đến hôm nay họ tự xoay sở cũng không đến nổi. Chỉ có đứa
trẻ ngây ngô thơ thẩn là tôi ngày nhỏ cứ dấm dúi đọc đi đọc lại mấy tập thơ cũ
nát do ông viết ra mà đâu hay cái nghiệp thơ phú vận vào mình đến bạc như vôi.
Có lần một ông chú
kể tôi hay: hồi trước 1975 ông là lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ông đánh trận
bị cụt mất một chân, về làng trở thành một anh thương phế binh (TPB) đập phá nhất
làng: đêm đêm ông đến nhà một phụ nữ xinh đẹp, đòi mẹ nàng là một góa phụ trung
niên phải gả cô con gái mười sáu tuổi như vầng trăng rằm cho ông.
Gần 1 năm, đêm nào cô
gái cũng đi ngủ nhờ nhà người khác vì sợ ông. Cho đến sau sự cố chính trị 30/04/1975
ông mới chấm dứt cái trò tống tình hai mẹ con nhà hàng xóm. Vấn đề với ông
không phải là phải lòng cô thôn nữ, thời đó đàn ông “mười phần hết bảy, còn ba.
Hết hai còn một…”, ông cao giá lắm. Chỉ khi bị chính quyền mới gọi ra trình diện,
ông khai man là ông thuộc phe những người lính phản chiến, ông cùng nhóm bạn
quen hút xách, uống rượu, chọc gái, đâm chém và nổ súng. Nhiều lần ông nói dối đã
tự bắn vào chân, làm cụt nửa cái chân để khỏi ra chiến trường - dĩ nhiên là ông
khai gian hoàn toàn nhưng lại được khen thành khẩn - Ông có chạy chọt đút lót cho
đại diện chính quyền phe thắng cuộc hay không chỉ có ông mới biết, tuy nhiên
ông không phải đi tù cũng như không bị gọi đi học tập hoặc tập trung cải tạo.
Nhà mẹ ông nghèo, các em ông nhỏ dại, ông sống ở quê như những người tàn tật
khác và cũng phải tự lao động nuôi thân. Gần mười năm sau ông cưới vợ. Một phụ
nữ lớn tuổi, xấu nhưng chăm chỉ. Giờ đây vợ chồng ông cũng gần 70 tuổi, các con
ông đều lập gia đình, cháu nội, cháu ngoại đông đủ.
Một lần tôi nhận được
email từ một người bạn ở Mỹ chuyển tiếp trong đó có thư thông báo về: “Chương trình tái định cư cho thương phế
binh và gia đình trong quân đội Sài Gòn cũ Việt nam Cộng hoà hiện còn đang sống
tại Việt nam, sau 40 năm bị bỏ quên nay được sang Mỹ tái định cư…” từ Nghị
quyết SJR 5 do nữ Nghị Sĩ Hoa Kỳ Janet Nguyễn (người Mỹ gốc Việt) khởi xướng.
Tôi bay đến nhà ông chú hỏi thăm ông có nhận được những tin tức loại này hay
không?
Ông chú trố mắt ra
khi nghe tôi nói chuyện, cứ ngỡ tôi là con điên. Mãi sau ông cũng lờ mờ hiểu điều
tôi nói khi tôi in ra giấy nội dung Nghị quyết SJR 5 được Hạ viện và Thượng viện
Mỹ đã thông qua trình chính quyền liên bang và Tổng thống Barak Obama. Xin
trích lại một phần nội dung:
“…Điều lưu ý các gia đình thương phế binh đừng quá vội bị kẻ xấu lợi dụng làm tiền lo hồ sơ. Sau khi Nghị quyết này được thi hành, Bộ ngoại giao Mỹ sẽ trực tiếp làm việc với Bộ ngoại giao Việt Nam phỏng vấn, giống như chương trình HO ra đi có trật tự (theo Janet Ngyễn hiện nay Hoa kỳ có danh sách khoảng 20.000 TPB VNCH). Nhắc lại Nghị Quyết SJR 5 là do cô Nghị Sĩ Hoa Kỳ Janet Nguyễn (người Mỹ gốc Việt) khởi xướng chương trình tái định cư cho thương phế binh VNCH đã bị đồng minh Mỹ lãng quên sau cuộc chiến Việt nam, số phận của họ hiện đang nghèo khó và đang lang thang bán vé số thậm chí xin ăn suốt 40 năm khắp miền nam Việt Nam…”
“…Điều lưu ý các gia đình thương phế binh đừng quá vội bị kẻ xấu lợi dụng làm tiền lo hồ sơ. Sau khi Nghị quyết này được thi hành, Bộ ngoại giao Mỹ sẽ trực tiếp làm việc với Bộ ngoại giao Việt Nam phỏng vấn, giống như chương trình HO ra đi có trật tự (theo Janet Ngyễn hiện nay Hoa kỳ có danh sách khoảng 20.000 TPB VNCH). Nhắc lại Nghị Quyết SJR 5 là do cô Nghị Sĩ Hoa Kỳ Janet Nguyễn (người Mỹ gốc Việt) khởi xướng chương trình tái định cư cho thương phế binh VNCH đã bị đồng minh Mỹ lãng quên sau cuộc chiến Việt nam, số phận của họ hiện đang nghèo khó và đang lang thang bán vé số thậm chí xin ăn suốt 40 năm khắp miền nam Việt Nam…”
Ông
chú TPB chưa từng ăn xin. Với cái cẳng gỗ và đôi nạn, ông lao động giỏi giang
không kém trai làng: ông cày cuốc, đan đát, may vá, dệt lưới, có nhiều năm ông
làm phụ hồ, thợ tre, chăn nuôi trâu bò, heo, gà, vịt,… Một lần tôi hỏi ông về nhà thơ Lê Tử Triều
và được ông kể cho nghe về người anh em lớn tuổi hơn ông và cái chết của ông ta:
…Trước năm 1975 ở
quê tôi có vợ chồng ông Lê Dinh cũng là người cùng làng cùng họ từng làm cơ sở
và nuôi dấu cán bộ nằm vùng. Nhiều lần hai vợ chồng ông Lê Dinh ra chiêu hồi và
chỉ điểm bắt hết số cán bộ cơ sở trú ẩn trong các hầm bí mật. Điều này chỉ mình
ông chú biết và kẻ bị tình nghi làm chỉ điểm lại là nhà thơ Lê Tử Triều – cựu Đảng
viên Quốc dân Đảng. Ông Lê Tử Triều là người đa sầu và nghèo khó, suốt đời chỉ
đọc sách và làm thơ. Chuyện ruộng vườn ông rất dở và ông sống khép kín, ít giao
du với dân quê. Vợ ông buôn bán tảo tần không may chết sớm. Bầy con nhỏ thất
thơ thất thểu được ông bà nội và các cô chú trông nom dạy bảo là chính.
Sau 30/04/1975 ông Lê
Tử Triều bị gọi đi học tập cải tạo. Bị chụp mũ, quy kết từng làm chỉ điểm và
ông đã tự sát. Trước khi chết ông dặn đàn con lo cày ruộng, buôn bán nuôi thân,
đừng dính dáng đến thơ phú. Tập thơ của ông có 4 câu tôi còn nhớ:
Ai có đi về trên bến Thương
Khi mùa thu rụng, ánh sầu vương
Để nghe trong gió hồn
man mác
Mỗi cánh hoa rơi, mỗi đoạn trường…”
….
Ông Lê Tử Triều quá
ủy mị lại đoạn trường lắm phen, thơ buồn lắm. Ăn chay trường, thờ Phật vậy mà
cuối cùng ông chọn cái chết để kết thúc mọi bi kịch.
Riêng ông chú không
phải là người nhớ dai. Nhà thơ Lê Tử Triều biết ông chú khai man với chính quyền
chú hủy hoại thân thể khi đang làm lính đã hỏi sao không đòm vào đầu chết luôn
cho rồi! Chuyện ông bị cụt mất một chân ra người tàn phế là nỗi khổ đau triền
miên, tàn đời, nhưng điều đó không làm chú quên vụ ông Lê Dinh, chỉ vì giờ đây
vợ chồng ông Lê Dinh được nhà nước thưởng Huân chương kháng chiến, hai vợ chồng
đều hưởng chính sách của người có công cách mạng.
Một lần khác cũng
chưa lâu tôi kể ông chú nghe chuyện lần đầu tôi nhận được thư của Hội Thương Phế
Binh Quân Lực VNCH. Thư đề nghị tôi hoặc gia đình của ông chú TPB muốn ông được
giúp đỡ thì liên lạc và gởi hồ sơ (Tên tuổi, Số quân, Đơn vị phục vụ v.v...) đến
Ông Nguyễn văn Sỹ, Hội TPB QLVNCH/NSW – Australia .
Ông chú bảo mối mọt
ăn hết hồ sơ, giấy tờ. Ông lắc đầu: “Quên đi! Gánh vác một công việc như thế
này sợ không tới đâu (không tiền bạc) sẽ mất lòng hội Thương phế binh hải ngoại
ấy và làm trò cười cho những kẻ độc địa xung quanh. Ở quê con người cay độc lắm,
như mười mấy năm trước có nhiều người đứng ra làm hồ sơ cho kiều bào từng đi
lính sang Pháp và trở về quê nhận tiền đền bù. Chờ hòai chẳng thấy tiền đền bù
đâu, lại mất lệ phí cho những kẻ liên lạc, môi giới. Thế là người ta cười thúi
mũi mấy ông kiều bào Pháp tội nghiệp...”
Ông chú TPB còn bảo
ông gần 70 tuổi rồi. Từ sau 30/04/ 1975 đến giờ ông có nhận được xu nào đâu.
Hơn nữa ông vẫn may mắn hơn gần một triệu quan chức, viên chức, lính và sĩ quan
từng bị giam cầm trong các trại lao động khổ sai.
Bà vợ ông chú đã
hài hước với tôi rằng: “thím sống không mấy ngày nữa, cơ cực làm khô quắt như
cành củi, lưng còng, mắt mờ. Chú chưa đến tuổi “Thất thập cổ lai hy” nếu được
đi Mỹ chú li dị thím và kết hôn với cháu nội cô thôn nữ ngày xưa (nay vừa 18 tuổi)
hẳn cả nhà cô ta sẽ mừng rơn vì được xuất cảnh. Không ngờ Mỹ đẹp đến thế!”
LÊ THU THÙY
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét