MA ĐẦU BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG
TRUYỆN NGẮN LÊ THU THÙY
Người
đàn ông ngồi lặng lẽ trên bờ biển nhìn về bên kia đại dương, xa xa, những chuyến
tàu ngược xuôi như mang theo bao nỗi đời trĩu nặng. Anh nhớ đến ước muốn của
người phụ nữ hết mực tôn thờ anh là được ít nhất một lần cùng anh xuôi thuyền
trên sông. Tại sao nàng muốn vậy anh không bao giờ biết được bởi anh không phải
là nàng, tuy nhiên, như cách liên tưởng xa xôi của nàng một chuyến đi như thế
tượng trưng cho một sự độ thoát của thầy với trò khiến anh thấy nàng chỉ là một
con nhóc ngô nghê. Ừ! thì được cùng anh sang bờ bên kia cũng có nghĩa nàng thôi
một kiếp nổi nênh. Anh không khỏi đặt nhiều dấu hỏi về nàng. Anh biết nàng tình
cờ. Một chị bạn của anh được nàng gọi là cô giới thiệu hai người làm quen với
nhau. Không hiểu sao chị bạn tin tưởng anh giúp được nàng điều gì đó. Nàng kể
nàng đang sống ở giữa những đầm lầy, cồn hoang, mộ cổ, đền tháp,...tóm lại đó
là một vùng dã thoại xa xưa mà ngày nay dân du lịch và những người làm công tác
văn hóa mất công tìm hiểu, nghiên cứu. Anh chưa từng một lần sống trong không
gian huyền hoặc ấy, anh cho rằng ở đó, là cô gái quê nên nàng rất muốn thoát khỏi
cái sự bết bác của đám đàn bà nông thôn và thích bằng an cùng bao cảnh ngộ đói
nghèo, khổ nhọc, lầm bụi. Không rõ nhờ đâu nàng có được chút vốn văn hóa đủ để
đọc được nhiều thứ sách báo. Anh biết được điều này vì lẽ, trong những bức thư
gửi anh nàng cố ý tỏ cho anh thấy tư thế của một con người đã điều phục được những
thói tật, cơn cớ và bao tội nợ của một kiếp đàn bà. Anh nhớ nàng từng viết cho
anh những bức thư chan chứa niềm tin cậy. Và anh tuy đã già rồi vẫn còn vô duyên
đến độ, hé lộ điều này cho một gã lưu manh ở đâu đó gần nàng. Gã vẫn thường đeo
bám, moi móc nàng, tìm cách cầu cạnh những người thân của nàng ở nước ngoài,
trong khi nàng chưa bao giờ nhận được một sự giúp đỡ của bất kì ai như bà cô của
nàng hy vọng. Bà sống bằng món tiền trợ cấp người già ở Mỹ và lo nhất là vào viện
dưỡng lão. Anh vẫn ngồi trên ghế của một ông quản lý một nhà sách điện tử trên
mạng. Thư quán của anh có đến hàng vạn đầu sách, mà hễ muốn nàng tha hồ đọc. Một
thời anh tâm niệm nhà anh cần sách hơn cần cơm. Hiện tại anh vẫn giữ lập trường
này và anh vẫn cứ sưu tầm sách đưa lên thư quán. Gã lưu manh hy vọng loại trừ
được nàng để độc quyền chiếm lĩnh sự ưu ái của bọn các anh, trong đó có cả bà
cô tội nghiệp. Bọn hắn gồm một lũ theo đóm ăn tàn. Chúng mơ được những người tốt
bụng ở Mỹ cho chúng tiền và đón chúng sang Mỹ. Anh bảo chúng là muốn qua Mỹ
không khó, chừng nửa triệu đô la là đủ cho một công dân ở một quốc gia bất kì
được phép nhập cư, trường hợp nàng dễ hơn nếu nàng kiếm được cơ hội du học rồi
xin thẻ xanh lưu trú. Anh không định cưới nàng. Cuối cùng nàng làm anh sượng
sùng bởi lẽ họ chưa gặp nhau, nàng mới biết anh qua những thư điện tử, dù cả một
trăm người đàn bà đi qua đời anh hoặc nàng nhầm lẫn anh với ai đó mà mà nàng thấy
xứng đáng được mình yêu thương dù hắn ta có nhiều vợ....thì cũng chẳng sao cả
vì lẽ trong tất cả điều này có gì đó vừa hết sức trớ trêu nhưng cũng hết sức kì
khôi. Trong mắt anh những người đàn bà mà cứ lì lợm yêu những thằng đàn ông
đang sống với vợ là điên đảo không thuốc chữa. Hồi trước anh làm việc ở một tòa
soạn báo, cô thư kí trẻ hơn anh gần 30 tuổi chanh chua: “tôi yêu anh dù tôi biết
là anh đang có vợ. Theo tôi nghĩ vợ anh không biết chuyện thì chẳng có gì ảnh
hưởng đến tình yêu của mình!” Không ít chị em rơi như táo rụng mà không hiểu là
anh chẳng hề muốn chiều lòng họ. Anh thấy rõ là nàng không thuộc ngữ ấy, nàng
ngấu nghiến những ebooks dày cả ngàn trang trên thư quán mà anh gửi cho và như
muốn nói với anh theo cách của mình: “em yêu quí anh và không cần biết anh có vợ
con không?” Anh mệt mỏi và chỉ muốn giết chết tình yêu của nàng khi một ý nghĩ
quái đản nẩy sinh trong đầu anh rằng: rất có thể một thời nàng từng được một hoặc
nhiều gã con trai yêu nàng, chúng biết nàng không yêu chúng nhưng vẫn cho rằng mình
có yêu nàng đơn phương cũng chẳng sao, chúng chỉ cần có một bóng hồng để cõi
lòng sa mạc của chúng xanh lên một tình yêu. Khổ thay, cái thứ ái tình của
chúng đã gây cho nàng không ít khó chịu đến mức thấy trốn chạy bọn chúng không
xong nàng đành phải cầu mong cho chúng chết phứt đi. Anh thầm hỏi cái người phụ
nữ kia có phải như thế không? Có phải nàng rất muốn kẻ yêu mình, muốn chiếm đoạt
mình, ăn tươi, nuốt sống mình mà mình không yêu chúng phải chết đi không? thường
thì người khác không yêu người yêu mình thì họ mặc xác, cũng không ít kẻ biết học
cách yêu thương người đang yêu mình. Cả rừng sách dạy con người học cách yêu
thương tha nhân hoặc bạn tình chắc là nàng có đọc. Bất hạnh nhất là nơi nàng sống
tuổi xuân của người con gái ngắn ngủi lắm. Cô nào theo chồng là bỏ cuộc chơi.
Những ai cơ nhỡ hay dang dở, giữa đường gãy gánh thì coi như sang sông đắm đò.
Anh chợt nghe lòng rung động khi cảm nhận bằng trực giác là nàng hiền từ và rất
dễ bị thương tổn trong tình trường, mà như thế có nghĩa là nàng lãnh đủ trong vụ
đắm đò định mệnh.
Nàng vẫn sống trong một xứ sở khác,
nơi đó chưa bao giờ là quê hương của anh. “Cô nàng có yêu quê hương không nhỉ?”
Có lần vì hằn học anh đã tự hỏi như thế. Anh thấy rằng lúc này nàng nương náu
chốn quê nhà là do lâm bước đường cùng chứ nàng không hề yêu quê mà tìm về. Có
tiền chắc nàng đã bay, không Mỹ, cũng Úc ,
Canada , hoặc giả
anh nhầm. Mà anh thì không thích những kẻ dối trá siêu hạng, cứ đem cái mác yêu
quê hương, bản quán ra cho người đời xưng tụng.
Có một thời anh từng muốn làm cỏ cái xứ
sở mà giờ đây anh gọi là nơi chôn nhau cắt rốn, cũng chưa lâu lắm, mới mấy mươi
năm đây thôi. Vì sao anh biết hơn ai hết. Có kẻ nghĩ đó là vì tham vọng chính
trị hoặc vì anh quá độc ác bởi hận thù giai cấp hoặc xung đột ý thức hệ hoặc cuồng
tín, vân vân... điều dễ dàng chấp nhận là nền cộng hòa của anh đã sụp đổ, mà một
nhà thơ khao khát được nó đội vòng hoa lên đầu và tống tiễn. Nào ngờ rơi thẳng
vào xã hội cộng sản, anh phải qua kinh nghiệm tù đày. Có gì đó như là tình trạng
tẩu hỏa nơi anh. Ừ! Thì con người dễ oán hận và nóng máu lắm, nóng đến có thể
có không ít người cầu mong hoặc chúc dữ rằng sao cho ngày tận thế nhanh đến để
thế giới này tan tành tro bụi rồi tiên tri lắm thứ hiểm họa trong đó có hiểm họa
loài người sẽ diệt vong. Hỡi ôi! Con người. Khi đã trót sinh làm kiếp con người
thì trong cuộc tồn vong biết bao ách nạn ập xuống đầu hắn để rồi hết chịu nổi hắn
có thể nổ tung, hắn thành tên khủng bố, kẻ ăn thịt đồng loại, giết người hàng
loạt,…
Anh còn nhớ thời trẻ một người con gái
yêu anh rồi phụ bạc. Anh cũng chẳng biết ai cưới được ả. Anh và ả từng thề non
hẹn biển, nhưng non thì cao, biển thì rộng còn anh thì thưở ấy chưa danh phận
gì. Nhiều năm sau anh mới thức thời rằng: người ta không muốn gả con gái cho
anh chẳng qua vì anh nghèo... Vậy là anh thù hận, chán đời và anh bỏ đi.
Bây giờ thì anh sống ở Mỹ, anh cũng
khá nổi tiếng và cứ muốn cho cả thế giới biết là anh rất nghèo. Nàng từng đùa
là xem anh như một vệ tinh và rất có thể gặp anh nàng sẽ xoay mòng mòng chỉ vì
quá ngưỡng mộ. Nàng từng biết nơi mình có hai con người: một có thể giúp nàng
tranh đoạt tài lộc, công danh với thiên hạ bằng mưu ma chước quỷ và con người
kia thì sợ đau khổ, tội nợ và cũng đớn hèn nên đã không muốn để con người thứ
nhất hành động ở mọi nơi, mọi lúc. Nàng khước từ con người lưỡng diện ở mình. Bằng
một mớ tạp nham kinh sách không hiếm thứ được ngụy tạo nàng lập luận rằng: người
duy nhất chịu sự cám dỗ của ma quỷ và khước từ được nó mà nàng biết là Chúa Giê
Su. Nhưng Giê Su đã rao giảng “hãy yêu thương kẻ thù!” nên mới bị đóng đinh.
Người đời có thể yêu thương một con vật kinh tởm bất luận đó là con gì, song
yêu thương kẻ thù thì còn lâu. Thật ra sau khi chúa Giê Su chịu khổ nạn trên thập
tự ác thì nhân loại bắt đầu xuất hiện một kiểu người tự đóng đinh câu rút dù chẳng
cứu chuộc ai kể cả chính mình nhưng nàng không muốn tuẫn nạn kiểu ấy. Nàng
không phải tín đồ của Thiên Chúa giáo hay tôn giáo bất kì nào. Nàng cũng không
có một thượng đế tính để lớn dậy trong niềm vui sáng tạo. Dù sao thì anh cũng là
một cá thể có một từ trường cực mạnh đủ sức nhấn chìm nàng như sóng thần nhấn
chìm một chiếc tàu và nàng, nhiều khi bất ngờ về anh đã tự hỏi: anh là gì mà kì
lạ vậy? Rất có thể anh chống lưng, trợ thủ gã lưu manh vẫn ám hại nàng.
Anh từng khoe với nàng anh đang sống hạnh
phúc với vợ con. Nàng có thể hình dung một người đàn bà ra vẻ phong lưu lắm vẫn
chu đáo với anh từ ly cà phê, bữa điểm tâm đến những cơn ghen tuông vừa đồng
bóng vừa đểu cáng. Anh gắng sức kiếm nhiều tiền tôn vinh cái gia đình mà anh thấy
càng hoàn hảo càng hạnh phúc. Theo như lời anh kể thì dứt khoát anh không thuộc
loại giỏi kiếm tiền, nhưng ở Mỹ mà không có tiền thì đừng mơ về quê nhờ vả bạn
bè. Những khi anh không tự xoay sở nổi thì vợ sẽ lo. Chị ta có đủ sức làm cho
gia đình giàu sụ vì thói thực dụng, vẻ sành sỏi và thủ đoạn lọc lõi. Muốn gì đi
nữa thì anh chẳng bao giờ đi yêu một thiếu phụ nghèo như nàng vì chắc chắn
trong khi làm phép so sánh giữa hai người đàn bà anh thấy tài lực nàng chưa bằng
cái móng tay lúc nào cũng trau chuốt, đánh bóng, sơn vẽ lòe loẹt,... của vợ
anh. Buồn cười là nàng bĩu môi nếu anh bảo vợ rằng anh chỉ kiếm một cô vợ lắm
tiền. Rồi nàng không thể không nghĩ về những quan hệ xã hội của anh trong thời
hiện tại ở một nơi xa lạ nhưng cũng trên trái đất này thôi. Không hiểu sao nàng
cứ hình dung về nếp sinh hoạt của những con người hàng chục năm chưa một lần chạm
chân xuống bùn đất mà anh là một trong số ấy. Cái đô thị nơi anh an cư tuy chưa
sầm uất nhất thế giới nhưng hẳn nhiên là tráng lệ và sạch. Một bộ phận cư dân ở
đó có thể suy đồi, ngập ngụa nhưng không bao giờ làm bẩn tay chân và áo quần bởi
đất đai. Họ di chuyển trên xe hơi và đi lại trên những con đường tráng nhựa và
điều hiển nhiên họ không biết thế nào là tay lấm chân bùn,... Mỗi khi ra phố hoặc
đến các điểm du lịch nàng thích ngắm một cách bất nhã những tay việt kiều trắng
trẻo, mập mạp, trí thức, ánh mắt bề trên nhìn cái gì cũng như ban phát từ nước
ngoài, đặc biệt từ Mỹ về. Đám đàn bà trong số ấy thì quá chảnh nên nàng không đến
xỉa đến họ. Đàn ông có sức hấp dẫn hơn. Bọn gái điếm và ma cô vẫn thích cua mấy
tay việt kiều trắng sạch hoặc cố tình để cho họ chú ý tới mình, dụ dỗ mình.
Thôi thì đủ mọi hạng người xúm vào làm tiền những quí ông, quí bà, quí cô, quí
cậu. Ngày xưa chắc anh lấy vợ cũng theo cung cách mấy tay Việt Kiều và cái người
đàn bà vớ được anh hẳn làm cho toàn gia hãnh diện với ý nghĩ theo anh qua Mỹ
thì gia đình và bà con tha hồ nhận tiền đô từ Mỹ gửi về xài. Mà cũng có khả
năng chị vợ gặp anh ở Mỹ và mê tít cái con người ngang tàng, coi trời bằng vung
để rồi bỏ chồng chạy theo anh với hy vọng một ngày nào đó thời cuộc đổi thay,
chị cùng anh về nước cũng ngôi mệnh phụ đường đường như ai. Có một nghịch lý là
tất cả mọi người ở đây, thân cũng như thù với nàng chẳng ai chịu để cho những
người như anh chị áo gấm về làng tiếm ngôi hoặc giành ghế, mà cũng có thể hoàn
toàn không phải như thế. Sao mà nàng cứ hay tưởng tượng?
Một ngày không việc, buổi chiều nàng
cùng với mấy vị giáo sư trong hội đồng thẩm định các tác phẩm nghệ thuật và
nhóm viên chức của trung tâm văn hóa ngồi tại quán cà phê lớn nhất mới được mở
nơi thị trấn quê nhà và nàng chợt tưởng tượng ra những con người như anh. Họ đã
phải trắng tay trong cuộc cuộc chơi máu lửa mới có thể viết những câu thơ khiến
nàng nát con tim khi đọc. “nhưng tôi không bao giờ đi cùng con đường với anh.
Tôi chỉ là một lối nhỏ nhưng nó là duy nhất, nó hình thành muộn màng và cũng có
thể bị xóa nhòa. Anh phát lộ cái gì ở phía bên kia?” Mọi thứ chỗ anh chắc không
nhếch nhác như chỗ nàng. Ngay như cái quán nước này đây, không biết cố tình hay
sơ ý mà chủ nhân đã chọn mua một thửa đất tiếp giáp đồng trũng để xây dựng và rồi
rác rến cứ sục, cứ bắn tận ly cà phê của khách khi đất dưới đồng được cày xới.
Mấy vị giáo sư ở Hà Nội xem ra rất muốn khó dễ với cái trung tâm được duy trì
chỉ bằng nguồn tài trợ của một chủ tiệm vàng. Bất chợt nàng thấy mình bị bỏ
quên và gọi anh bạn thợ điêu khắc đang thực hiện một tác phẩm để đời tham dự đại
lễ Thăng Long Ngàn Năm Văn Hiến và chỉ cho anh xem những gốc rạ choài ra sau luống
cày. Nàng bảo anh thử tạo bề mặt tượng đồng bào thô ráp như thế được
không? Anh cười: ý tưởng hay nhưng đồng bào anh phải phơi mưa, dầm nắng, dãi dầu,
quăng quật giữa lũ cuồng, bão tố nên chi mọi thứ phải na ná bức thành đồng hoặc
đá vọng phu. Ruộng đất cho dẫu trơ gan cùng tuế nguyệt vẫn không thể thay thế bất
kỳ chất liệu nào bền hơn nó được. Nghe vậy nàng đùa với anh thợ điêu khắc rằng
anh cứ lấy đồng đen mà tạc tượng. Anh bảo nàng cứ kiếm tiền in thơ, việc làm tượng
đồng bào là do nhóm anh thực hiện với chất liệu từ gỗ quí. Nàng bảo quá muộn để
nàng đi học điêu khắc, nếu sớm theo nghề này nàng chẳng thua Điềm Phùng Thị.
Anh làm ra vẻ bâng quơ: Điềm Phùng Thị gần bốn mươi tuổi mới học điêu khắc, còn
anh học từ năm mười bốn tuổi vậy mà đến giờ gần bốn mươi rồi nhưng chẳng ai muốn
nghe tên tuổi anh.
Nàng chẳng thấy có gì là thật trong việc
nàng tham gia vào cái trung tâm này, cũng như nàng là đồng sự của tay điêu khắc.
Nhưng nàng tin chắc lần này anh ta thành công. Một lần ông Tổng biên tập bảo
nàng sưu tầm 1000 bài thơ để làm sách kỉ niệm đại lễ. Mới tìm được gần 500 bài
thì ông lên cơn đau tim và chết đột ngột. Chủ tiệm vàng giờ là Giám đốc trung
tâm bảo nàng stop vì đã có nơi xuất bản loại sách như thế rồi. Nàng bực tức vì
mất công. Có người bảo nàng cứ giữ chừng ấy bài thơ và tự bỏ tiền túi xuất bản
vì trung tâm không có kinh phí in chứ không phải việc làm sách trùng lặp ý tưởng
nơi khác. Nàng tiu ngỉu vì kiếm vài mươi triệu để in sách là việc nan giải, giữ
chỗ thơ thì thừa. Ông chủ tiệm kim hoàn an ủi nàng bằng cách khích lệ nàng viết
bài giới thiệu về tác phẩm Thiên long Việt đồ. Ông ta đàng hoàng trình bày ý tưởng
xây dựng đồ hình đất nước từ 1000 con rồng bằng vàng với kinh phí hàng tỉ đồng
để trưng bày tại đại lễ. Nàng biết ý tưởng này chưa đụng hàng vì khó mà có nổi
một gia tài để chơi bạo.
Chưa bao giờ nàng nhìn kỹ cái người
đàn ông từ nơi khác đến lập nghiệp rồi trở nên giàu nhất ở cái thị trấn quê
nàng dù nàng biết ông ta mấy mươi năm nay. Nhà nàng chỉ cách trung tâm thị trấn
một ki lô mét vậy mà vài đổi thay kể cả việc mở cái quán cà phê lớn nhất này
nàng cũng mới biết mấy tuần nay thôi. Còn ông chủ tiệm kim hoàn thì thông thuộc
khắp các hang cùng ngõ hẻm kể cả những xóm nhà lều bẩn thỉu của dân đào đãi
vàng tận thượng nguồn con sông. Một lần ông ta kể rằng, ngày xưa ông ta rất muốn
ra nước ngoài. Ông từng thi đỗ đại học nhưng vì lý lịch xấu nên không được nhập
học. Mấy thằng bạn cùng cảnh ngộ bất mãn gom hết tài sản để vượt biên. Họ rủ rê
ông tham gia và khi biết ông không có đủ vàng một trong số thân hữu đã chia sẽ
cho ông một ít gia tài của mình. Thế nhưng, dù thuộc diện người gốc Hoa được tự
do ra đi có trật tự ông vẫn sợ, linh tính chết chóc thì đúng hơn. Hình như chuyến
đi ấy thân hữu ông gặp bão hay cướp biển gì đó và tàu đắm chết cả hay sao đó mà
gần ba mươi năm rồi ông vẫn không tin tức. Ông ta cười buồn: “chỗ vàng bạn hữu
cho là toàn bộ vốn liếng để tôi mở cơ sở kinh doanh này đấy. Tôi học nghề kim
hoàn và về đây mở tiệm vì thấy đất này con người hiền lành và cũng dễ làm ăn”.
Nàng nghĩ về anh chàng quản lý nhà
sách trên mạng tự hỏi nếu anh cũng làm ra nhiều vàng như ông chủ tiệm kim hoàn
từ những gì anh đọc suốt đời. Hình như ngày trước anh cũng đi vượt biên chứ
không phải xuất cảnh. Anh nói anh nghèo xơ xác và nàng tin, tin chỉ vì nàng biết
những gì anh làm chỉ đưa đến sự sung sướng trong đổ nát. Trừ phi anh có tài phù
phép ra tiền, còn không, anh mà giàu thì chỉ nhờ vợ thôi.
Tư phôn cho nàng bảo Tư nhắn lại bao
giờ anh về Tư mời anh đến chỗ Tư chơi. Cứ như thơ phú của anh thì Việt kiều Mỹ
phải là khách vip và một khi về nước họ sẽ ban ân sũng cho con dân Việt Nam từ
Bắc chí Nam. Đồng bào tha hồ mà nhờ ơn mưa móc. Anh quen Tư trong dịp Tư tham
quan nước Mỹ cùng đoàn nhà báo cao cấp. Anh nhìn nhận Tư thế nào mà bảo sẽ đến
chỗ Tư học hỏi thêm thuật xử thế. Anh từng viết thư cho nàng bảo có biết một
nhà báo tên Tư đang công tác đâu đó gần khu vực nàng sinh sống. Nàng sửng sốt
vì vợ chồng Tư vốn cùng học chung với nàng tại học viện văn hóa quốc gia ngày
trước nhưng họ lớn tuổi hơn nàng nhiều, là bậc đàn anh, đàn chị của nàng. Anh
khuyên nàng chịu khó đến để Tư dạy thêm điều nọ, điều kia. Phải chăng bao nhiêu
năm qua mãi mưu sinh nơi đồng chua, nước mặn, chống chịu mưa bão, lũ lụt và hạn
hán, kiến thức rơi rụng đến mức nàng mà không học trở lại thì sẽ không được
tích sự gì. Nàng đã tìm gặp Tư và hỏi thăm về anh nhưng cuối cùng đành thất vọng
vì Tư bảo không liên lạc với anh và hơn cả thế, Tư còn dạy nàng rằng: sự thức
thời và thực dụng của y đã khiến Tấn rất nể phục và rồi Tư khuyên nàng nên cày
xới trên cánh đồng của mình bởi không bao giờ nàng xu thời được như y, nàng khó
mà vừa tán dương một vị thủ tướng vừa khóc cùng dân đen mà không thấy mình xấu
hổ. Riêng nàng hiểu là Tư khéo chạy chọt, luồn lách, lựa gió bẻ măng. Bản thân
nàng một lần nữa đã giả định viễn cảnh một ngày kia bộ ba: Anh – Tư – nàng cùng
hội ngộ trên một dòng sông.
ĐOẠN KẾT
...Nhân dịp về Việt Nam cưới vợ cho con trai Tấn chủ động tìm gặp
và rủ nàng đến chỗ Tư. Nàng không thay đổi mấy sau nhiều năm kể từ lúc quen anh
và nàng thì thấy rõ là thời gian đã làm cho lòng tin yêu của nàng chuyển dịch về
một thế giới xa xôi, và chỉ hiện diện đâu đó trong tâm tưởng nàng như là hoài
niệm. Thế nhưng trong trí nhớ của anh thì bao yêu thương ở nàng là chốn đi về của
sự quên lãng dù rằng ký ức anh lưu trữ những lời dịu dàng xuất phát từ đáy lòng
nàng đã trở thành những sáng tạo đẹp nhất của ngày hôm qua. Có lần vì giận anh
nàng buông ra những lời cộc cằn, cay đắng nhưng nàng quên bẵng và anh cũng
không để bụng. Tư chế giễu anh là nàng chẳng bao giờ nhớ nổi những gì xảy ra
trong quá khứ. Gợi lại những chuyện buồn vui hoặc không đâu vào đâu là điều chẳng
nên chút nào, nó chỉ cho mỗi người một dự cảm chứ không phải trải nghiệm sống
thực sự. Mà điều này thường chỉ đem đến nỗi lo âu tuy mơ hồ giữa những kẻ nặng
nghĩa tình với nhau.
Anh không thích
cách võ đoán của Tư. Rõ ràng Tư ngờ vực họ. Lẽ ra y phải hiểu anh về đây đâu phải
để gặp nàng. Anh bỏ ra số tiền khổng lồ bay từ Mỹ về cái vùng quê này. Tư hỏi
anh có phải vì quá yêu nàng không? Câu hỏi này xem ra ngu ngốc nhất vì lẽ anh
biết giữa anh và nàng chỉ là thầy trò. “Vậy tại sao lại đến chỗ nàng. Vì chán vợ
ư?” Tư lại hỏi. Y không quên đau đớn rằng: y nghi ngờ vợ nhiều lần ngoại tình
nhưng không muốn li dị vì lẽ bản thân y từng tìm đến với nhiều người đàn bà và
thấy họ không thay thế vợ mình được nên cuối cùng đành chấp nhận cái sự thể ông
ăn chả bà ăn nem và coi đó như là cách mỗi người tự làm khác mình...
- Tôi từng đau đến tưởng
chừng nát cả người ra như sứa biển khi yêu – Tư nói điều này với Tấn và nàng
vào cái lúc cả ba đang du ngoạn trên thuyền - có gì đó như là lời buộc tội khi
nàng kể Tư hay rằng Tấn đã biến nàng thành vật hiến tế cho gã lưu manh vô học,
vô đạo mà Tấn cực kì ưa thích – lạ điều là hắn cũng đến chỗ Tư, hắn muốn hạ sát
nàng để tranh đoạt tình yêu, hắn yêu thương tất cả những người nàng quen biết ở
Mỹ và có vai vế trong xã hội - Thứ tình người này kịch phát con người hắn thành
khối thuốc độc. Té ra Tấn dạy hắn sống sao cho tốt đẹp và thường xuyên giúp đỡ
người đời, riêng với nàng thì không cần -
Hắn đã làm theo lời Tấn theo cách của hắn là lợi dụng tất cả những quan
hệ xã hội của nàng – biến bất cứ ai nàng biết thành kẻ thù của nàng, mượn tay họ
tru diệt nàng. Một con người có hiểu biết rốt ráo về cuộc đời như Tấn hẳn nhiên
là đủ sức giúp nàng thành đạt trong mơ ước cỏn con ở mọi độ tuổi, nàng nào ngờ
anh thiếu thực tế đến mức tưởng trong sát na cảm hóa nổi một ác quỉ thành bồ
tát để nàng yêu thương hắn. Tấn vẫn điềm nhiên từ xa điều khiển gã lưu manh
theo cái cách mà anh nghĩ rằng tốt đẹp nhất. Lại còn dạy nàng thương người như
thể thương thân(!). Mà sao nàng thấy anh
cũng hội đủ sự tầm thường của mọi gã đàn ông.
Anh thấy khó chịu về Tư nhất là khi bắt buộc
phải giãi bày:
- Đến hôm nay tôi mới
về vì lẽ, tôi nghĩ rằng chậm năm mười năm thì nàng sẽ lớn hoặc già hơn thôi chứ
chẳng vấn đề gì, làm người đàn bà trưởng thành nàng sẽ nhìn mọi quan hệ một
cách tỉnh táo. Bởi vì tất cả chúng ta đều sống trong chuỗi những sự đời và song
hành với những người khác cũng như cùng chung hưởng món quà tặng vĩnh cửu là thời
gian. Tôi thấy không cần thiết phải giả bộ như những tay Việt kiều khác là cho
nàng biết tôi mất vợ hoặc không có vợ. Ở Mỹ, anh có thể mời vợ của người khác
mà anh tình cờ quen biết về nhà để yêu nếu cô ta đồng ý. Tôi nhiều lần phát hiện
ra vợ mình rất thích những vụ lăng nhăng và bị mời mọc kiểu này. Tôi không thấy
thiếu vắng vì thỉnh thoảng vẫn đưa đón
các cô gái độc thân ở sở làm. Có cô gắn bó với tôi hàng năm trời mới dứt tình
ra đi. Cứ mỗi mất mát cũng buồn lắm, đau lắm nhưng dần rồi cũng chấp nhận được
mọi đổ vỡ.
Tư rót thêm rượu
vào ly và xa xôi về sự chênh lệch tuổi
tác giữa anh và nàng. Anh không thấy thế làm điều vì biết là nàng nhỏ hơn anh đến
hai mươi tuổi, nhưng dù nàng nhỏ hơn hai hoặc hai mươi hay năm mươi tuổi thì họ
cũng chẳng trẻ hơn hoặc già hơn bao nhiêu trước thời gian. Anh đã đến cái tuổi
mãn chiều xế bóng và thấy đời vô thường lắm. Người con gái kia ngày trước yêu
anh như yêu mọi gã đàn ông thì hẳn là nàng có thể lấy một tấm chồng rồi sum vầy
vui vẻ nhưng nàng đã không. Nàng tìm kiếm một điều gì khác lạ với cái cuộc sống
bần hàn, khốn đốn và cô đơn chốn đầm lầy của nàng. Làm sao anh có thể cho nàng
hiểu dòng đời vẫn xuôi trôi như nước trên sông mà mỗi người thì không ngừng
thay đổi, không phải là nàng, hay anh hay ai đó bị thay thế bởi một kẻ khác mà
là bản thân mỗi người tại mọi thời điểm đã biến thành người khác mới hơn, lớn
hơn, hoặc già hơn.
Họ ngồi trên thuyền
uống rượu. Trong lặng im hốt nhiên Tư như chợt nhớ ra điều gì đó và y nói:
- Suy cho cùng thì có
gặp nàng hay không cũng thế phải không ông Tấn? Tôi nhớ ngày xưa có một nữ thi
sĩ đất Hà thành yêu tôi. Mối tình ấy đẹp đến nỗi tôi cứ mơ ngày kia đưa nàng về
ra mắt họ mạc và sẽ làm bà con lóa mắt bởi vẻ đẹp của nàng, chẳng là lúc ấy tôi
đang theo học tại học viện văn hóa, đi học theo diện sĩ quan quân đội phục viên
nên lúc này tôi cũng khá lớn tuổi. Người tôi yêu còn trẻ trung, thanh lịch lắm,
bao giờ tôi cũng sợ mình thể hiện cái sự thô kệch của thằng lính quê khiến nàng
dị ứng và tôi nâng niu nàng như nâng niu con chim cảnh. Ngày nọ, tôi bắt gặp
nàng và ông hiệu trưởng đáng tuổi bố nàng hôn nhau. Khi tôi hỏi thì nàng nhấm
nhẳng:“thầy muốn vậy chứ em đâu muốn”! Tôi chỉ có thể xáng cho nàng một cái tát
tóe lửa và đi cưới vợ.
Y suy nghĩ một chút
rồi chợt cười buồn:
- Nếu sống trong tâm
thức rằng đêm nay ngủ có thể ngày mai mình sẽ chết đi và như thế thì tìm lại một
tình yêu đã mất phỏng có ích gì? Ấy vậy mà anh Tấn ạ! lúc nào tôi cũng đau đáu
một điều là nên một lần tìm gặp lại cô ấy. Tôi thiết tưởng đó là lời xin lỗi muộn
màng. Mấy mươi năm rồi nhưng tôi chắc thương tích trong lòng cô ấy vẫn còn
nguyên cũng như sự hối hận vẫn luôn giày vò tôi mỗi khi tôi nhớ lại cái tát của
mình.
Khó ai biết vì sao
lúc đó nàng vờ như không nghe Tư nói chuyện với anh và đăm đăm nhìn bầy vịt trời
bơi ngược dòng. Giá mà Tấn biết nàng rất ghét thói vũ phu của Tư. Từ lâu nàng
biết y hay đánh vợ chỉ vì ghen.
Anh nhìn nàng hồi lâu rồi bảo Tư:
Anh nhìn nàng hồi lâu rồi bảo Tư:
- Mỗi chúng ta ai cũng
có vài ba hoặc hàng loạt cuộc tình trước khi lấy vợ còn nàng thì sao. Nàng từng
là hoa đã có chủ. Chồng nàng chẳng muốn gì hơn được một góa phụ ở Mỹ bảo lãnh
theo diện kết hôn, mà chồng quá cố của chị ta lại là bạn nàng. Sau khi đã lãnh
cảm trước cái sự khả ố và vô nghĩa của những người đàn ông kết hợp với nàng
trên danh nghĩa tình nhân hay tình vợ chồng, rồi bội bạc, cuối cùng nàng chỉ muốn
tựa vào một kẻ như mình sao được. Đã có lúc mình muốn gã lưu manh mà nàng kinh
tởm cưới nàng.
Nàng giật mình và
len lén nhìn Tấn. Đâu đó là bóng ma của gã lưu manh vẫn rình rập.
Ráng đỏ chiều tà nhuộm hồng sóng nước trên
sông. Thực vật phù du vật vờ theo dòng chảy. Tư uống như không biết say. Tấn ngồi
nhìn những bức tranh hư ảo không ngừng thay hình đổi dạng từ đám mây nổi phía
chân trời. Anh đã có dấu hiệu của một ông già mà nàng thoáng nhìn chỉ thấy trẻ
hơn anh chút xíu.
LTT
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét