Danh sách Blog của Tôi

Danh sách Blog của Tôi

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

TÙY BÚT


MỖI CÁNH HOA RƠI MỖI ĐOẠN TRƯỜNG!
                                                                   Bài của Lê Thu Thùy
                                                          I
          Nhà thơ Lê Tử Triều làng chúng tôi tự sát sau ngày 30/04/1975 hai tháng, để lại vài tập thơ mỏng manh hồi nhỏ có lần tôi đọc được. Đàn con mồ côi cha mẹ của ông lớn cùng chúng tôi theo năm tháng. Họ không nhập tâm những vần thơ đói nghèo, đen bạc, thương thân, tủi phận của cha. Đến hôm nay họ tự xoay sở cũng không đến nổi. Chỉ có đứa trẻ ngây ngô thơ thẩn là tôi ngày nhỏ cứ dấm dúi đọc đi đọc lại mấy tập thơ cũ nát do ông viết ra mà đâu hay cái nghiệp thơ phú vận vào mình đến bạc như vôi.
          Có lần một ông chú kể tôi hay: hồi trước 1975 ông là lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ông đánh trận bị cụt mất một chân, về làng trở thành một anh thương phế binh (TPB) đập phá nhất làng: đêm đêm ông đến nhà một phụ nữ xinh đẹp, đòi mẹ nàng là một góa phụ trung niên phải gả cô con gái mười sáu tuổi như vầng trăng rằm cho ông.
          Gần 1 năm, đêm nào cô gái cũng đi ngủ nhờ nhà người khác vì sợ ông. Cho đến sau sự cố chính trị 30/04/1975 ông mới chấm dứt cái trò tống tình hai mẹ con nhà hàng xóm. Vấn đề với ông không phải là phải lòng cô thôn nữ, thời đó đàn ông “mười phần hết bảy, còn ba. Hết hai còn một…”, ông cao giá lắm. Chỉ khi bị chính quyền mới gọi ra trình diện, ông khai man là ông thuộc phe những người lính phản chiến, ông cùng nhóm bạn quen hút xách, uống rượu, chọc gái, đâm chém và nổ súng. Nhiều lần ông nói dối đã tự bắn vào chân, làm cụt nửa cái chân để khỏi ra chiến trường - dĩ nhiên là ông khai gian hoàn toàn nhưng lại được khen thành khẩn - Ông có chạy chọt đút lót cho đại diện chính quyền phe thắng cuộc hay không chỉ có ông mới biết, tuy nhiên ông không phải đi tù cũng như không bị gọi đi học tập hoặc tập trung cải tạo. Nhà mẹ ông nghèo, các em ông nhỏ dại, ông sống ở quê như những người tàn tật khác và cũng phải tự lao động nuôi thân. Gần mười năm sau ông cưới vợ. Một phụ nữ lớn tuổi, xấu nhưng chăm chỉ. Giờ đây vợ chồng ông cũng gần 70 tuổi, các con ông đều lập gia đình, cháu nội, cháu ngoại đông đủ.
          Một lần tôi nhận được email từ một người bạn ở Mỹ chuyển tiếp trong đó có thư thông báo về: “Chương trình tái định cư cho thương phế binh và gia đình trong quân đội Sài Gòn cũ Việt nam Cộng hoà hiện còn đang sống tại Việt nam, sau 40 năm bị bỏ quên nay được sang Mỹ tái định cư…” từ Nghị quyết SJR 5 do nữ Nghị Sĩ Hoa Kỳ Janet Nguyễn (người Mỹ gốc Việt) khởi xướng. Tôi bay đến nhà ông chú hỏi thăm ông có nhận được những tin tức loại này hay không?
          Ông chú trố mắt ra khi nghe tôi nói chuyện, cứ ngỡ tôi là con điên. Mãi sau ông cũng lờ mờ hiểu điều tôi nói khi tôi in ra giấy nội dung Nghị quyết SJR 5 được Hạ viện và Thượng viện Mỹ đã thông qua trình chính quyền liên bang và Tổng thống Barak Obama. Xin trích lại một phần nội dung:
           “…Điều lưu ý các gia đình thương phế binh đừng quá vội bị kẻ xấu lợi dụng làm tiền lo hồ sơ. Sau khi Nghị quyết này được thi hành, Bộ ngoại giao Mỹ sẽ trực tiếp làm việc với Bộ ngoại giao Việt Nam phỏng vấn, giống như chương trình HO ra đi có trật tự (theo Janet Ngyễn hiện nay Hoa kỳ có danh sách khoảng 20.000 TPB VNCH). Nhắc lại Nghị Quyết SJR 5 là do cô Nghị Sĩ Hoa Kỳ Janet Nguyễn (người Mỹ  gốc Việt) khởi xướng chương trình tái định cư cho thương phế binh VNCH đã  bị đồng minh Mỹ lãng quên sau cuộc chiến Việt nam, số phận của họ hiện đang  nghèo khó và đang lang thang bán vé số thậm chí xin ăn suốt 40 năm khắp miền nam Việt Nam…”
          Ông chú TPB chưa từng ăn xin. Với cái cẳng gỗ và đôi nạn, ông lao động giỏi giang không kém trai làng: ông cày cuốc, đan đát, may vá, dệt lưới, có nhiều năm ông làm phụ hồ, thợ tre, chăn nuôi trâu bò, heo, gà, vịt,… Một lần tôi hỏi ông về nhà thơ Lê Tử Triều và được ông kể cho nghe về người anh em lớn tuổi hơn ông và cái chết của ông ta:
          …Trước năm 1975 ở quê tôi có vợ chồng ông Lê Dinh cũng là người cùng làng cùng họ từng làm cơ sở và nuôi dấu cán bộ nằm vùng. Nhiều lần hai vợ chồng ông Lê Dinh ra chiêu hồi và chỉ điểm bắt hết số cán bộ cơ sở trú ẩn trong các hầm bí mật. Điều này chỉ mình ông chú biết và kẻ bị tình nghi làm chỉ điểm lại là nhà thơ Lê Tử Triều – cựu Đảng viên Quốc dân Đảng. Ông Lê Tử Triều là người đa sầu và nghèo khó, suốt đời chỉ đọc sách và làm thơ. Chuyện ruộng vườn ông rất dở và ông sống khép kín, ít giao du với dân quê. Vợ ông buôn bán tảo tần không may chết sớm. Bầy con nhỏ thất thơ thất thểu được ông bà nội và các cô chú trông nom dạy bảo là chính.
          Sau 30/04/1975 ông Lê Tử Triều bị gọi đi học tập cải tạo. Bị chụp mũ, quy kết từng làm chỉ điểm và ông đã tự sát. Trước khi chết ông dặn đàn con lo cày ruộng, buôn bán nuôi thân, đừng dính dáng đến thơ phú. Tập thơ của ông có 4 câu tôi còn nhớ:
          Ai có đi về trên bến Thương
          Khi mùa thu rụng, ánh  sầu vương
          Để  nghe trong gió hồn man mác
          Mỗi cánh hoa rơi, mỗi đoạn trường…”
….
          Ông Lê Tử Triều quá ủy mị lại đoạn trường lắm phen, thơ buồn lắm. Ăn chay trường, thờ Phật vậy mà cuối cùng ông chọn cái chết để kết thúc mọi bi kịch.
          Riêng ông chú không phải là người nhớ dai. Nhà thơ Lê Tử Triều biết ông chú khai man với chính quyền chú hủy hoại thân thể khi đang làm lính đã hỏi sao không đòm vào đầu chết luôn cho rồi! Chuyện ông bị cụt mất một chân ra người tàn phế là nỗi khổ đau triền miên, tàn đời, nhưng điều đó không làm chú quên vụ ông Lê Dinh, chỉ vì giờ đây vợ chồng ông Lê Dinh được nhà nước thưởng Huân chương kháng chiến, hai vợ chồng đều hưởng chính sách của người có công cách mạng.
          Một lần khác cũng chưa lâu tôi kể ông chú nghe chuyện lần đầu tôi nhận được thư của Hội Thương Phế Binh Quân Lực VNCH. Thư đề nghị tôi hoặc gia đình của ông chú TPB muốn ông được giúp đỡ thì liên lạc và gởi hồ sơ (Tên tuổi, Số quân, Đơn vị phục vụ v.v...) đến Ông Nguyễn văn Sỹ, Hội TPB QLVNCH/NSW – Australia.
          Ông chú bảo mối mọt ăn hết hồ sơ, giấy tờ. Ông lắc đầu: “Quên đi! Gánh vác một công việc như thế này sợ không tới đâu (không tiền bạc) sẽ mất lòng hội Thương phế binh hải ngoại ấy và làm trò cười cho những kẻ độc địa xung quanh. Ở quê con người cay độc lắm, như mười mấy năm trước có nhiều người đứng ra làm hồ sơ cho kiều bào từng đi lính sang Pháp và trở về quê nhận tiền đền bù. Chờ hòai chẳng thấy tiền đền bù đâu, lại mất lệ phí cho những kẻ liên lạc, môi giới. Thế là người ta cười thúi mũi mấy ông kiều bào Pháp tội nghiệp...”
          Ông chú TPB còn bảo ông gần 70 tuổi rồi. Từ sau 30/04/ 1975 đến giờ ông có nhận được xu nào đâu. Hơn nữa ông vẫn may mắn hơn gần một triệu quan chức, viên chức, lính và sĩ quan từng bị giam cầm trong các trại lao động khổ sai.
          Bà vợ ông chú đã hài hước với tôi rằng: “thím sống không mấy ngày nữa, cơ cực làm khô quắt như cành củi, lưng còng, mắt mờ. Chú chưa đến tuổi “Thất thập cổ lai hy” nếu được đi Mỹ chú li dị thím và kết hôn với cháu nội cô thôn nữ ngày xưa (nay vừa 18 tuổi) hẳn cả nhà cô ta sẽ mừng rơn vì được xuất cảnh. Không ngờ Mỹ đẹp đến thế!”
LÊ THU THÙY



TẢN VĂN


BỒ ĐỀ HOANG
Tản văn của Lê Thu Thùy
                                      H
Trong đời, tôi chưa một lần dám đến gần cây bồ đề linh thiêng ấy.
Cây bám bộ rễ đồ sộ vào khu mả vôi to nhất gò Hống, nằm phía cánh đồng bên kia, thuộc về thôn Bàn Thạch xã Duy Vinh. Nhà tôi lại thuộc thôn Vân Quật xã Duy Thành. Người thôn tôi vẫn hãnh diện về Bàu Sen Vân Quật trải rộng một vùng đất, vào mùa hè sen trổ hoa, hương thơm tỏa khắp thôn làng. Gần Bàu Sen Vân Quật còn ngôi chùa Vân Quật (bây giờ đổi tên là chùa Giác Văn), nhưng trong tôi bao giờ cũng là chùa Vân Quật mà mẹ là một trong những phật tử đầu tiên chung tay xây dựng ngôi chùa từ thời thuộc Pháp.
Cây bồ đề Chùa Vân Quật cũng bình thường như mọi cây bồ đề ở tất cả những ngôi chùa trên thế gian này, mặc dù trước đó có những cây bồ đề khác được trồng trong khuôn viên chùa và bị đốn chặt, bị đào trốc gốc, nhưng rồi nhiều cây con mọc lên thế chỗ. Chùa Vân Quật cũng vậy. Ngày thơ, tôi đã cùng gia đình phật tử Vân Quật sinh hoạt, vui chơi, hành lễ trong một ngôi chùa đổ nát bởi bom đạn chiến tranh. Về sau tôi không còn thói quen đi lễ chùa hàng tuần, hàng đêm nữa, nhiều năm xa quê, một ngày trở về và tôi thấy một ngôi chùa hoành tráng được dựng lên, với tên gọi mới là Giác Văn, thay thế ngôi chùa Vân Quật nhỏ bé, đổ nát của tôi ngày thơ, và như hôm nay tôi chứng kiến, cả ngôi chùa Giác Văn cũng đang bị đập phá để xây lên ngôi chùa khác, chắc là to hơn nữa, riêng tôi không rõ vị sư cô trụ trì sẽ đặt tên gì cho ngôi chùa mới đang được đào móng, đổ trụ.
          Người quê tôi có truyền tụng một dã thoại mịt mù, rằng chùa Vân Quật nằm bên Bàu sen Vân Quật như trong sấm kí thì sẽ có một vị Phật ra đời nơi làng quê này. Thực hư của chuyện này như thế nào đến nay không ai rõ, nhưng có một sự tích về Bàu Sen Vân Quật lại khá hay:
Chuyện kể rằng ngày xưa có một người đàn ông hàng ngày vẫn mưu sinh trên Bàu Sen quê tôi. Thở ấy hai làng Triều Châu và Vân Quật vẫn tranh chấp nhau cái Bàu sen khổng lồ và không vị quan huyện, quan phủ nào phân xử nổi. Chuyện tranh chấp đến hận thù giữa hai làng khiến người đàn ông vẫn câu cá, thả lưới trên Bàu Sen động lòng. Một lần ông bày tỏ ý kiến với quan trên là ông sinh nghề tử nghiệp trên Bàu sen ngót nửa thế kỉ. Nếu quan lớn không chê cái xác thân hèn hạ của ông thì sau khi ông chết, thi thể của ông nằm phía làng nào thì Bàu sen thuộc về làng đó.
Ngày nọ quan huyện được tin người câu cá đã chết. Một trận lụt đã nhấn chìm chiếc thuyền câu bé nhỏ của người đàn ông và xác thân ông ta mất tích. Sau bảy ngày bảy đêm xác ông ta mới nổi lên, lúc này đã cạn lụt và xác người ngư phủ tấp về phía bờ làng Vân Quật. Theo di ngôi của ông câu cá, quan trên xử cho làng Vân Quật làm chủ Bàu Sen rộng lớn và lấy tên là Bàu Sen Vân Quật. Ông câu cá được thờ trong các đình, chùa Vân Quật như một vị thần, bồ tát cai quản Bàu Sen,…”
Vật đổi sao dời. Nước nơi Bàu sen Vân Quật bây giờ đã cạn nguồn. Sen vẫn nở hoa ngào ngạt vào mùa hè, nhưng buồn thay, cỏ, bèo cũng chiếm chỗ mà xưa kia chỉ thuần hoa sen tỏa hương. Tôi nhìn Bàu sen mà thầm tiếc nhớ, cả ngôi chùa đang bị đập phá để xây lại chùa khác to hơn mà sư cô trụ trì gọi là trùng tu, tôn tạo. Cây bồ đề từng tỏa bóng xuống tuổi thơ tôi đã biến mất.
         
Sáng mồng một tết đi thăm mộ, hương khói ông bà và mẹ hiền, tôi chợt tiếc rẽ khi hiểu chùa đang bị đập phá để xây lại nên tôi không thể đi lễ chùa. Nhìn qua gò Hống, tôi chợt sững sờ:
Một cây bồ đề cành lá sum sê trên mảnh đất hoang mà ngày bé tôi vẫn sợ ma quỉ không dám một mình đi ngang qua nơi đó.
          Cây bồ đề hoang trên ngôi mộ hoang to nhất trong kí ức của tôi vẫn gắn liền với những câu chuyện ma mị hoang đường. Từ nghĩa địa của làng tôi qua gò Hống bây giờ đã có 1 con đường xe ô tô chạy được. Nhiều ngôi nhà của một công ty gạch được dựng lên cạnh đó, nhưng cây bồ đề trên ngôi ngôi mộ hoang vẫn giữ một uy lực linh thiêng. Còn nữa, mấy nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã về tận ngôi mộ hoang (họ gọi là mả ông Đào, nhưng dân quê tôi gọi là mả bà Bảy Em, mả ông Đào cũng gần đó và tầm thường hơn, về sau, nhờ học hỏi hiểu biết nhiều tôi phát hiện ra mả bà Bảy Em và cả mả ông Đào trên thực tế là mộ phần của những người Chàm (người Hời), nhưng đó là những người Chàm có thế lực, giàu có lúc còn sống).
Chuyện hồn ma bà Bảy Em hồi nhỏ nghe người khác kể là tôi rùng mình. Bà ẩn hồn trong ngôi mộ to nhất vùng, và đủ mọi cô hồn ngự trên cây bồ đề hoang bám bộ rễ đồ sộ vào lòng ngôi mộ đá đen của bà. Không văn bia, không di ngôn chỉ có những chuyện ma quỉ hoang đường là được kể nhiều lắm, như chuyện ông chú của tôi đem nọ đi đơm đó, thả lờ trên bàu ruộng thì nghe tiếng con nít từ trong mộ bà Bảy Em khóc, ông tằng hắng một tiếng cho khỏi sợ, và ông nghe một người đàn bà hát ru, nựng nịu đứa con đang khóc rằng:
-         Nín đi con, đừng khóc nữa, để mẹ đi bắt cái ông vừa “tằng hắng” dưới bàu về nấu cháo con ăn…
Ông chú kể rằng lần đó ông bỏ chạy thục mạng và bỏ luôn thói quen đi úp nơm, thả lờ, đơm đó trên bàu ruộng ban đêm.
         
          Một buổi sáng rét lạnh đầu năm, bổng nhiên chú tôi vừa khóc vừa nhắc lại chuyện thằng con trai chú vì còn nhỏ tuổi, nghịch dại. Đi chăn bò, nó vào trong khu mộ bà Bảy Em tránh nắng dưới cây bồ đề,… thấy mấy quả lựu đạn ai đó ném trong lòng mộ, nó nhặt lên, đập chơi, quả lựu đạn nổ, thằng con trai của chú chết ngay tại chỗ, mấy đứa trẻ khác bị thương. Vong hồn thằng em con ông chú vẫn lẩn quất quanh mộ bà Bảy Em, có người kể là từng trông thấy nó. Thằng nhỏ chưa đến 10 tuổi, không nhầm với ai khác vẫn đong đưa trên cây bồ đề hoang, những trưa đứng bong.
         

Chuyện về ngôi mộ với cây bồ đề hoang còn dài, nếu không được xếp hạng di tích nó vẫn đủ sức chứa một pho truyện cổ. Điều gì sẽ xảy ra với di tích quốc gia này. Nhiều lần tôi tự tìm hiểu vẫn thấy mờ mịt hơn khi có kẻ kể cách đây chưa lâu, mấy phụ nữ đi chợ, ngang qua ngôi mộ có cây bồ đề hoang, thoáng bóng một bà già ra đón đường, gửi mấy đồng tiền nhờ mua rau quả. Một người sợ quá nhận vội chỗ tiền nắm chặt trong tay, đi một đoạn xa mở ra xem thì chỗ tiền lúc nãy chỉ là mấy cục cứt khô.
         
          Chiều nay có người gọi đi xem khai quật bồ đề hoang, sự thật là khai quật ngôi mộ đá đen. Ít nhiều người ta giữ cho cây bồ đề hoang không bị đốn chặt, phá gốc.
          Thì ra trong lúc đào lấy đất làm gạch, hàng chục người đã phát hiện ra những viên gạch, những hàng gạch, thậm chí cả bàn thờ, chân đèn, bình hương bị chôn vùi trong lòng đất, khu vực di tích.
-         Bồ đề hoang!
 Đó là một phát ngôn đầy rụt rè nhưng rất khoa học của vài nhà nghiên cứu khi tìm thấy một pho tượng Phật cao, to bằng sa thạch bị bộ rễ cây bồ đề cuốn chặt. Lạ một điều ông Phật bằng sa thạch này lại là nguyên mẫu ông thần (hoặc bồ tát) bảo hộ Bàu sen Vân Quật quê tôi vẫn được thờ như thần, phật trong chùa và cả trong đình làng Vân Quật.
Tôi chợt nhớ lời một người bạn nói về di tích của người Chàm:
Đó là đá  gạch ngàn năm hát ca bằng mật ngữ mà chìa khóa mở cánh cửa đã bị ném đi đâu đó trong lời của gió, của những vì sao xa xôi chỉ có thượng đế biết!”    
                                                LÊ THU THÙY

DU LỊCH


KHU DU LỊCH SINH THÁI BỌ CẠP VÀNG

BỨC TRANH ĐƯỢC VẼ TỪ MỘT HUYỀN THOẠI HIỆN ĐẠI

                                               

 Giữa không gian bát ngát, biếc xanh của những vườn cây được điểm xuyết bởi những hàng bọ cạp trổ hoa vàng rực rỡ, ông Nguyễn Văn Sửu ung dung kể cho du khách nghe những năm tháng nhọc nhằn mà ông đã dày công tạo lập Khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng. Cứ theo cách nói của ông thì để có được cơ nghiệp như hiện tại, ông phải trải qua những chặng đường vất vả, lao lực, cùng thời gian, công sức mồ hôi chẳng khác gì công lao của một người nuôi voi để lấy ngà. Quả thật, công trình ông dựng nên chưa chắc giàu đã  làm được. Người dân địa phương thêu dệt nên câu chuyện rằng: nhờ đào được một con bọ cọp bằng vàng nặng trên 20kg trong lúc khai khẩn đất đai, ông mới đủ tiền của khởi nghiệp. 

Từ Tp. HCM qua phà Cát Lái, du khách bắt đầu cảm nhận được không khí mát mẻ, trong lành đặc thù của vùng ven đô bởi những vuông vườn mướt xanh cây lá dọc hai bên đường. Bỏ lại sau lưng thành phố ồn ào, một khi đã đặt chân lên canô, thả hồn mình du lãng giữa nước biếc, mây trời, ngờm ngợp hoa đồng, cỏ nội và sực nức những đặc sản đồng quê ngào ngạt hương vị. Khu du lịch Bọ Cạp Vàng hiện ra trước mắt bạn như một bức tranh kỳ diệu được vẽ nên từ những huyền thoại hiện đại nhất. 

Vào năm 1992, nhà giáo Lê Văn Sửu sau khi về hưu đã rời Tp.HCM đến ấp 3, xã Phước Khánh chuyển nhượng phần đất với mục đích ban đầu là xây dựng thành một vườn nhà sản xuất theo mô hình VAC nhằm mục đích tăng thu nhập cho gia đình cũng như vui thú điền viên. Đất này trước kia vốn thuộc đặc khu rừng Sác, một vùng quanh năm sình lầy nước mặn. Trải qua sáu năm gian khổ đổ công sức tiền của, mồ hôi, nước mắt, và nhẫn nại để nhen nhúm vườn cây ăn quả, ao cá, gian nhà, cuối cùng ông đã đạt được thành quả ngoài mong đợi. Những người bạn mà ông giao du từ thưở còn dạy học ở thành phố bắt đầu được mời về thăm chơi, nghỉ dưỡng vào những ngày nghỉ cuối tuần. Dần dần, khu vườn sinh thái nổi bật giữa không gian yên lành, sông nước xanh biếc, gió mây lồng lộng bỗng có một sức quyến rũ đặc biệt để rồi khách khứa tìm đến thư giãn, nghỉ ngơi ngày càng đông. Nhận thấy nơi đây hội đủ tiềm năng của một khu nghỉ dưỡng thích hợp cho những ai từng vật lộn, mệt nhọc chốn đô thị, nhiều người khác cũng dần tìm về đây chuyển nhượng đất và lập vườn, đào ao, nuôi cá, dựng lên những căn nhà lá ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng mát.

Điểm du lịch vườn ông giáo Sửu bắt đầu triển khai và đi vào hoạt động từ năm 1999. Thời buổi đó mọi thứ còn ngập trong khó khăn, tình hình đưa rước khách du lịch chưa được chu đáo như bây giờ. Bản thân ông Sửu cũng thiếu kinh nghiệm làm du lịch và do mô hình này tự ông kiến tạo, quá trình đầu tư, xây dựng, mở mang, phát triển chủ yếu bằng công lao của chính mình và nguồn vốn ít ỏi là chính. Cảnh quan chỉ thu hẹp trong một phạm vi giới hạn 4ha, vì thế khách đến tham quan, nghỉ dưỡng hoàn toàn tự phát.

 Đến năm 2001 từ việc kết hợp với Saigon Tourist đưa khách du lịch dã ngoại về, địa điểm Khu du lịch của ông Sửu được biết đến vào thời điểm hàng cây bọ cạp kỳ lạ trong vườn vào khoảng tháng 3 – 4 trổ hoa vàng rực cả một vùng. Từ đó cái tên Khu du lịch Bò Cạp Vàng ra đời và các tour du lịch khác cũng tìm đến như: Danatour, Hoàn Vũ tour, Fidi tour, Thương Hiệu Việt, Lửa Việt,… Đến hôm nay mọi người đều công nhận Bò Cạp Vàng đã tạo được một sân chơi bổ ích cho mọi đối tượng, đặc biệt là giới trẻ vào những ngày cuối tuần hoặc dịp lễ, tết, đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một số bà con lao động tại địa phương.

  Nằm trong khung cảnh thơ mộng, kế bên đập thủy lợi ông Kèo với hai mặt tiền giáp sông quanh năm khí hậu trong lành tươi mát, Bọ Cạp Vàng điểm tô thêm bức tranh thanh bình của vùng đất này nhất là vào những buổi bình minh, trên dòng sông bàng bạc ánh lê hồng, những con thuyền rời bến ngược xuôi, hoặc chiều xuống, không gian đẫm mùi vị mằn mặn của hơi nước từ biển tỏa ra được gió mang về. Khung cảnh hiền hòa chỉ có ở miền quê Đồng Nai trên bến dưới thuyền luôn gắn liền với những thú vui tao nhã gần gũi với thiên nhiên. Dọc theo hai bờ sông là vườn cây ăn trái được thiết kế hài hòa với gần 200 căn nhà sàn, nhà chòi lợp lá có võng nằm, ghế ngồi, xích đu hóng gió, hệ thống vòi tắm nước ngọt miễn phí, du khách hoàn toàn tự do phục vụ chính mình. Khu sinh hoạt ngoài trời, khu cắm trại dã ngoại với các trò chơi dân gian hấp dẫn như đi cà kheo, nhảy bao bố, đập heo đất, kéo co,…hết sức sinh động. Riêng những du khách thích có cảm giác mạnh thì ở đây có sẵn các loại hình mạo hiểm để có thể tham gia như: vượt cáp treo, tuột vách núi hoặc vượt chướng ngại vật,…

 Từ khu nghỉ dưỡng Bọ Cạp Vàng  du khách có thể đi đò ngang hoặc thuê xuồng xuôi sông để có cảm giác như được trở về với con sông quê hương, ngâm mình hoặc vẫy vùng trong dòng nước mát xanh, được cùng bạn bè chèo ghe len lỏi khắp các rặng dừa nước câu cá và hái hoa dại. Đêm thanh gió mát có thể thảnh thơi trên chiếc xuồng ba lá thả trôi tự do mà thỏa thích ngắm sao trời. Hòa hợp nhất với những tâm hồn nghệ sĩ là giữa không gian bao la và tịnh mịch của những khuya trăng sáng, nằm trong du thuyền nghe gió thì thầm, buâng khuâng ngâm ngợi những vần thơ nặng tình non nước.

Đã từ lâu, ẩm thực trở thành một dịch vụ không thể thiếu trong đời sống con người. Khi khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng tưng bừng mở cửa đón khách từ thành phố và những vùng lân cận tìm về nghỉ dưỡng thì việc đáp ứng nhu cầu ăn uống của khách trở nên cấp bách. Các món ăn chốn này đã làm nên một nét văn hóa ẩm thực đặc trưng: trái trên cành, cá trong ao với giá cả khá rẻ, ngon lạ, đầy tính ngẫu hứng như: bò cạp lăn bột chiên bơ, cá lóc nướng trui, thỏ nướng mọi, đặc biệt có món gà nướng thố đất hương vị rất thơm ngon đậm đà chất dân dã... được bày trên những chiếc sạp tre, hoặc trên bãi cỏ mang đúng cảnh sắc của tiền nhân thời mở mang bờ cõi đầy gian khó – một thứ văn hóa ẩm thực dung dị đúng bản chất của người Đồng Nai xưa đang bị quên lãng dần trong đời sống hiện đại giữa xu thế hội nhập, tuy nhiên vẫn được chủ nhân của Khu du lịch sinh thái Bọ Cọp Vàng gìn giữ và duy trì.

 Trong những năm qua Khu du lịch sinh thái Bò Cạp Vàng đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt người đến tham quan nghỉ mát, đa số đến từ Tp.HCM và các vùng lân cận. Hiện nay trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đã có trên 10 điểm du lịch sinh thái, phỏng theo mô hình Bò Cạp Vàng. Người dân quanh vùng bắt đầu chú trọng các dịch vụ du lịch như: mở quán phục vụ ăn uống, mua sắm ghe xuồng cho du khách thuê,… góp phần vào sự phát triển kinh tế ở địa phương, tạo cho bộ mặt phố huyện Nhơn Trạch một sắc thái mới.

KHU DU LỊCH SINH THÁI BỌ CẠP VÀNG

BỨC TRANH ĐƯỢC VẼ TỪ MỘT HUYỀN THOẠI HIỆN ĐẠI

                                               

 Giữa không gian bát ngát, biếc xanh của những vườn cây được điểm xuyết bởi những hàng bọ cạp trổ hoa vàng rực rỡ, ông Nguyễn Văn Sửu ung dung kể cho du khách nghe những năm tháng nhọc nhằn mà ông đã dày công tạo lập Khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng. Cứ theo cách nói của ông thì để có được cơ nghiệp như hiện tại, ông phải trải qua những chặng đường vất vả, lao lực, cùng thời gian, công sức mồ hôi chẳng khác gì công lao của một người nuôi voi để lấy ngà. Quả thật, công trình ông dựng nên chưa chắc giàu đã  làm được. Người dân địa phương thêu dệt nên câu chuyện rằng: nhờ đào được một con bọ cọp bằng vàng nặng trên 20kg trong lúc khai khẩn đất đai, ông mới đủ tiền của khởi nghiệp. 

Từ Tp. HCM qua phà Cát Lái, du khách bắt đầu cảm nhận được không khí mát mẻ, trong lành đặc thù của vùng ven đô bởi những vuông vườn mướt xanh cây lá dọc hai bên đường. Bỏ lại sau lưng thành phố ồn ào, một khi đã đặt chân lên canô, thả hồn mình du lãng giữa nước biếc, mây trời, ngờm ngợp hoa đồng, cỏ nội và sực nức những đặc sản đồng quê ngào ngạt hương vị. Khu du lịch Bọ Cạp Vàng hiện ra trước mắt bạn như một bức tranh kỳ diệu được vẽ nên từ những huyền thoại hiện đại nhất. 

Vào năm 1992, nhà giáo Lê Văn Sửu sau khi về hưu đã rời Tp.HCM đến ấp 3, xã Phước Khánh chuyển nhượng phần đất với mục đích ban đầu là xây dựng thành một vườn nhà sản xuất theo mô hình VAC nhằm mục đích tăng thu nhập cho gia đình cũng như vui thú điền viên. Đất này trước kia vốn thuộc đặc khu rừng Sác, một vùng quanh năm sình lầy nước mặn. Trải qua sáu năm gian khổ đổ công sức tiền của, mồ hôi, nước mắt, và nhẫn nại để nhen nhúm vườn cây ăn quả, ao cá, gian nhà, cuối cùng ông đã đạt được thành quả ngoài mong đợi. Những người bạn mà ông giao du từ thưở còn dạy học ở thành phố bắt đầu được mời về thăm chơi, nghỉ dưỡng vào những ngày nghỉ cuối tuần. Dần dần, khu vườn sinh thái nổi bật giữa không gian yên lành, sông nước xanh biếc, gió mây lồng lộng bỗng có một sức quyến rũ đặc biệt để rồi khách khứa tìm đến thư giãn, nghỉ ngơi ngày càng đông. Nhận thấy nơi đây hội đủ tiềm năng của một khu nghỉ dưỡng thích hợp cho những ai từng vật lộn, mệt nhọc chốn đô thị, nhiều người khác cũng dần tìm về đây chuyển nhượng đất và lập vườn, đào ao, nuôi cá, dựng lên những căn nhà lá ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng mát.

Điểm du lịch vườn ông giáo Sửu bắt đầu triển khai và đi vào hoạt động từ năm 1999. Thời buổi đó mọi thứ còn ngập trong khó khăn, tình hình đưa rước khách du lịch chưa được chu đáo như bây giờ. Bản thân ông Sửu cũng thiếu kinh nghiệm làm du lịch và do mô hình này tự ông kiến tạo, quá trình đầu tư, xây dựng, mở mang, phát triển chủ yếu bằng công lao của chính mình và nguồn vốn ít ỏi là chính. Cảnh quan chỉ thu hẹp trong một phạm vi giới hạn 4ha, vì thế khách đến tham quan, nghỉ dưỡng hoàn toàn tự phát.

 Đến năm 2001 từ việc kết hợp với Saigon Tourist đưa khách du lịch dã ngoại về, địa điểm Khu du lịch của ông Sửu được biết đến vào thời điểm hàng cây bọ cạp kỳ lạ trong vườn vào khoảng tháng 3 – 4 trổ hoa vàng rực cả một vùng. Từ đó cái tên Khu du lịch Bò Cạp Vàng ra đời và các tour du lịch khác cũng tìm đến như: Danatour, Hoàn Vũ tour, Fidi tour, Thương Hiệu Việt, Lửa Việt,… Đến hôm nay mọi người đều công nhận Bò Cạp Vàng đã tạo được một sân chơi bổ ích cho mọi đối tượng, đặc biệt là giới trẻ vào những ngày cuối tuần hoặc dịp lễ, tết, đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một số bà con lao động tại địa phương.

  Nằm trong khung cảnh thơ mộng, kế bên đập thủy lợi ông Kèo với hai mặt tiền giáp sông quanh năm khí hậu trong lành tươi mát, Bọ Cạp Vàng điểm tô thêm bức tranh thanh bình của vùng đất này nhất là vào những buổi bình minh, trên dòng sông bàng bạc ánh lê hồng, những con thuyền rời bến ngược xuôi, hoặc chiều xuống, không gian đẫm mùi vị mằn mặn của hơi nước từ biển tỏa ra được gió mang về. Khung cảnh hiền hòa chỉ có ở miền quê Đồng Nai trên bến dưới thuyền luôn gắn liền với những thú vui tao nhã gần gũi với thiên nhiên. Dọc theo hai bờ sông là vườn cây ăn trái được thiết kế hài hòa với gần 200 căn nhà sàn, nhà chòi lợp lá có võng nằm, ghế ngồi, xích đu hóng gió, hệ thống vòi tắm nước ngọt miễn phí, du khách hoàn toàn tự do phục vụ chính mình. Khu sinh hoạt ngoài trời, khu cắm trại dã ngoại với các trò chơi dân gian hấp dẫn như đi cà kheo, nhảy bao bố, đập heo đất, kéo co,…hết sức sinh động. Riêng những du khách thích có cảm giác mạnh thì ở đây có sẵn các loại hình mạo hiểm để có thể tham gia như: vượt cáp treo, tuột vách núi hoặc vượt chướng ngại vật,…

 Từ khu nghỉ dưỡng Bọ Cạp Vàng  du khách có thể đi đò ngang hoặc thuê xuồng xuôi sông để có cảm giác như được trở về với con sông quê hương, ngâm mình hoặc vẫy vùng trong dòng nước mát xanh, được cùng bạn bè chèo ghe len lỏi khắp các rặng dừa nước câu cá và hái hoa dại. Đêm thanh gió mát có thể thảnh thơi trên chiếc xuồng ba lá thả trôi tự do mà thỏa thích ngắm sao trời. Hòa hợp nhất với những tâm hồn nghệ sĩ là giữa không gian bao la và tịnh mịch của những khuya trăng sáng, nằm trong du thuyền nghe gió thì thầm, buâng khuâng ngâm ngợi những vần thơ nặng tình non nước.

Đã từ lâu, ẩm thực trở thành một dịch vụ không thể thiếu trong đời sống con người. Khi khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng tưng bừng mở cửa đón khách từ thành phố và những vùng lân cận tìm về nghỉ dưỡng thì việc đáp ứng nhu cầu ăn uống của khách trở nên cấp bách. Các món ăn chốn này đã làm nên một nét văn hóa ẩm thực đặc trưng: trái trên cành, cá trong ao với giá cả khá rẻ, ngon lạ, đầy tính ngẫu hứng như: bò cạp lăn bột chiên bơ, cá lóc nướng trui, thỏ nướng mọi, đặc biệt có món gà nướng thố đất hương vị rất thơm ngon đậm đà chất dân dã... được bày trên những chiếc sạp tre, hoặc trên bãi cỏ mang đúng cảnh sắc của tiền nhân thời mở mang bờ cõi đầy gian khó – một thứ văn hóa ẩm thực dung dị đúng bản chất của người Đồng Nai xưa đang bị quên lãng dần trong đời sống hiện đại giữa xu thế hội nhập, tuy nhiên vẫn được chủ nhân của Khu du lịch sinh thái Bọ Cọp Vàng gìn giữ và duy trì.

 Trong những năm qua Khu du lịch sinh thái Bò Cạp Vàng đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt người đến tham quan nghỉ mát, đa số đến từ Tp.HCM và các vùng lân cận. Hiện nay trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đã có trên 10 điểm du lịch sinh thái, phỏng theo mô hình Bò Cạp Vàng. Người dân quanh vùng bắt đầu chú trọng các dịch vụ du lịch như: mở quán phục vụ ăn uống, mua sắm ghe xuồng cho du khách thuê,… góp phần vào sự phát triển kinh tế ở địa phương, tạo cho bộ mặt phố huyện Nhơn Trạch một sắc thái mới.

KHU DU LỊCH SINH THÁI BỌ CẠP VÀNG

BỨC TRANH ĐƯỢC VẼ TỪ MỘT HUYỀN THOẠI HIỆN ĐẠI

                                               

 Giữa không gian bát ngát, biếc xanh của những vườn cây được điểm xuyết bởi những hàng bọ cạp trổ hoa vàng rực rỡ, ông Nguyễn Văn Sửu ung dung kể cho du khách nghe những năm tháng nhọc nhằn mà ông đã dày công tạo lập Khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng. Cứ theo cách nói của ông thì để có được cơ nghiệp như hiện tại, ông phải trải qua những chặng đường vất vả, lao lực, cùng thời gian, công sức mồ hôi chẳng khác gì công lao của một người nuôi voi để lấy ngà. Quả thật, công trình ông dựng nên chưa chắc giàu đã  làm được. Người dân địa phương thêu dệt nên câu chuyện rằng: nhờ đào được một con bọ cọp bằng vàng nặng trên 20kg trong lúc khai khẩn đất đai, ông mới đủ tiền của khởi nghiệp. 

Từ Tp. HCM qua phà Cát Lái, du khách bắt đầu cảm nhận được không khí mát mẻ, trong lành đặc thù của vùng ven đô bởi những vuông vườn mướt xanh cây lá dọc hai bên đường. Bỏ lại sau lưng thành phố ồn ào, một khi đã đặt chân lên canô, thả hồn mình du lãng giữa nước biếc, mây trời, ngờm ngợp hoa đồng, cỏ nội và sực nức những đặc sản đồng quê ngào ngạt hương vị. Khu du lịch Bọ Cạp Vàng hiện ra trước mắt bạn như một bức tranh kỳ diệu được vẽ nên từ những huyền thoại hiện đại nhất. 

Vào năm 1992, nhà giáo Lê Văn Sửu sau khi về hưu đã rời Tp.HCM đến ấp 3, xã Phước Khánh chuyển nhượng phần đất với mục đích ban đầu là xây dựng thành một vườn nhà sản xuất theo mô hình VAC nhằm mục đích tăng thu nhập cho gia đình cũng như vui thú điền viên. Đất này trước kia vốn thuộc đặc khu rừng Sác, một vùng quanh năm sình lầy nước mặn. Trải qua sáu năm gian khổ đổ công sức tiền của, mồ hôi, nước mắt, và nhẫn nại để nhen nhúm vườn cây ăn quả, ao cá, gian nhà, cuối cùng ông đã đạt được thành quả ngoài mong đợi. Những người bạn mà ông giao du từ thưở còn dạy học ở thành phố bắt đầu được mời về thăm chơi, nghỉ dưỡng vào những ngày nghỉ cuối tuần. Dần dần, khu vườn sinh thái nổi bật giữa không gian yên lành, sông nước xanh biếc, gió mây lồng lộng bỗng có một sức quyến rũ đặc biệt để rồi khách khứa tìm đến thư giãn, nghỉ ngơi ngày càng đông. Nhận thấy nơi đây hội đủ tiềm năng của một khu nghỉ dưỡng thích hợp cho những ai từng vật lộn, mệt nhọc chốn đô thị, nhiều người khác cũng dần tìm về đây chuyển nhượng đất và lập vườn, đào ao, nuôi cá, dựng lên những căn nhà lá ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng mát.

Điểm du lịch vườn ông giáo Sửu bắt đầu triển khai và đi vào hoạt động từ năm 1999. Thời buổi đó mọi thứ còn ngập trong khó khăn, tình hình đưa rước khách du lịch chưa được chu đáo như bây giờ. Bản thân ông Sửu cũng thiếu kinh nghiệm làm du lịch và do mô hình này tự ông kiến tạo, quá trình đầu tư, xây dựng, mở mang, phát triển chủ yếu bằng công lao của chính mình và nguồn vốn ít ỏi là chính. Cảnh quan chỉ thu hẹp trong một phạm vi giới hạn 4ha, vì thế khách đến tham quan, nghỉ dưỡng hoàn toàn tự phát.

 Đến năm 2001 từ việc kết hợp với Saigon Tourist đưa khách du lịch dã ngoại về, địa điểm Khu du lịch của ông Sửu được biết đến vào thời điểm hàng cây bọ cạp kỳ lạ trong vườn vào khoảng tháng 3 – 4 trổ hoa vàng rực cả một vùng. Từ đó cái tên Khu du lịch Bò Cạp Vàng ra đời và các tour du lịch khác cũng tìm đến như: Danatour, Hoàn Vũ tour, Fidi tour, Thương Hiệu Việt, Lửa Việt,… Đến hôm nay mọi người đều công nhận Bò Cạp Vàng đã tạo được một sân chơi bổ ích cho mọi đối tượng, đặc biệt là giới trẻ vào những ngày cuối tuần hoặc dịp lễ, tết, đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một số bà con lao động tại địa phương.

  Nằm trong khung cảnh thơ mộng, kế bên đập thủy lợi ông Kèo với hai mặt tiền giáp sông quanh năm khí hậu trong lành tươi mát, Bọ Cạp Vàng điểm tô thêm bức tranh thanh bình của vùng đất này nhất là vào những buổi bình minh, trên dòng sông bàng bạc ánh lê hồng, những con thuyền rời bến ngược xuôi, hoặc chiều xuống, không gian đẫm mùi vị mằn mặn của hơi nước từ biển tỏa ra được gió mang về. Khung cảnh hiền hòa chỉ có ở miền quê Đồng Nai trên bến dưới thuyền luôn gắn liền với những thú vui tao nhã gần gũi với thiên nhiên. Dọc theo hai bờ sông là vườn cây ăn trái được thiết kế hài hòa với gần 200 căn nhà sàn, nhà chòi lợp lá có võng nằm, ghế ngồi, xích đu hóng gió, hệ thống vòi tắm nước ngọt miễn phí, du khách hoàn toàn tự do phục vụ chính mình. Khu sinh hoạt ngoài trời, khu cắm trại dã ngoại với các trò chơi dân gian hấp dẫn như đi cà kheo, nhảy bao bố, đập heo đất, kéo co,…hết sức sinh động. Riêng những du khách thích có cảm giác mạnh thì ở đây có sẵn các loại hình mạo hiểm để có thể tham gia như: vượt cáp treo, tuột vách núi hoặc vượt chướng ngại vật,…

 Từ khu nghỉ dưỡng Bọ Cạp Vàng  du khách có thể đi đò ngang hoặc thuê xuồng xuôi sông để có cảm giác như được trở về với con sông quê hương, ngâm mình hoặc vẫy vùng trong dòng nước mát xanh, được cùng bạn bè chèo ghe len lỏi khắp các rặng dừa nước câu cá và hái hoa dại. Đêm thanh gió mát có thể thảnh thơi trên chiếc xuồng ba lá thả trôi tự do mà thỏa thích ngắm sao trời. Hòa hợp nhất với những tâm hồn nghệ sĩ là giữa không gian bao la và tịnh mịch của những khuya trăng sáng, nằm trong du thuyền nghe gió thì thầm, buâng khuâng ngâm ngợi những vần thơ nặng tình non nước.

Đã từ lâu, ẩm thực trở thành một dịch vụ không thể thiếu trong đời sống con người. Khi khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng tưng bừng mở cửa đón khách từ thành phố và những vùng lân cận tìm về nghỉ dưỡng thì việc đáp ứng nhu cầu ăn uống của khách trở nên cấp bách. Các món ăn chốn này đã làm nên một nét văn hóa ẩm thực đặc trưng: trái trên cành, cá trong ao với giá cả khá rẻ, ngon lạ, đầy tính ngẫu hứng như: bò cạp lăn bột chiên bơ, cá lóc nướng trui, thỏ nướng mọi, đặc biệt có món gà nướng thố đất hương vị rất thơm ngon đậm đà chất dân dã... được bày trên những chiếc sạp tre, hoặc trên bãi cỏ mang đúng cảnh sắc của tiền nhân thời mở mang bờ cõi đầy gian khó – một thứ văn hóa ẩm thực dung dị đúng bản chất của người Đồng Nai xưa đang bị quên lãng dần trong đời sống hiện đại giữa xu thế hội nhập, tuy nhiên vẫn được chủ nhân của Khu du lịch sinh thái Bọ Cọp Vàng gìn giữ và duy trì.

 Trong những năm qua Khu du lịch sinh thái Bò Cạp Vàng đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt người đến tham quan nghỉ mát, đa số đến từ Tp.HCM và các vùng lân cận. Hiện nay trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đã có trên 10 điểm du lịch sinh thái, phỏng theo mô hình Bò Cạp Vàng. Người dân quanh vùng bắt đầu chú trọng các dịch vụ du lịch như: mở quán phục vụ ăn uống, mua sắm ghe xuồng cho du khách thuê,… góp phần vào sự phát triển kinh tế ở địa phương, tạo cho bộ mặt phố huyện Nhơn Trạch một sắc thái mới.

KHU DU LỊCH SINH THÁI BỌ CẠP VÀNG

BỨC TRANH ĐƯỢC VẼ TỪ MỘT HUYỀN THOẠI HIỆN ĐẠI

                                               

 Giữa không gian bát ngát, biếc xanh của những vườn cây được điểm xuyết bởi những hàng bọ cạp trổ hoa vàng rực rỡ, ông Nguyễn Văn Sửu ung dung kể cho du khách nghe những năm tháng nhọc nhằn mà ông đã dày công tạo lập Khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng. Cứ theo cách nói của ông thì để có được cơ nghiệp như hiện tại, ông phải trải qua những chặng đường vất vả, lao lực, cùng thời gian, công sức mồ hôi chẳng khác gì công lao của một người nuôi voi để lấy ngà. Quả thật, công trình ông dựng nên chưa chắc giàu đã  làm được. Người dân địa phương thêu dệt nên câu chuyện rằng: nhờ đào được một con bọ cọp bằng vàng nặng trên 20kg trong lúc khai khẩn đất đai, ông mới đủ tiền của khởi nghiệp. 

Từ Tp. HCM qua phà Cát Lái, du khách bắt đầu cảm nhận được không khí mát mẻ, trong lành đặc thù của vùng ven đô bởi những vuông vườn mướt xanh cây lá dọc hai bên đường. Bỏ lại sau lưng thành phố ồn ào, một khi đã đặt chân lên canô, thả hồn mình du lãng giữa nước biếc, mây trời, ngờm ngợp hoa đồng, cỏ nội và sực nức những đặc sản đồng quê ngào ngạt hương vị. Khu du lịch Bọ Cạp Vàng hiện ra trước mắt bạn như một bức tranh kỳ diệu được vẽ nên từ những huyền thoại hiện đại nhất. 

Vào năm 1992, nhà giáo Lê Văn Sửu sau khi về hưu đã rời Tp.HCM đến ấp 3, xã Phước Khánh chuyển nhượng phần đất với mục đích ban đầu là xây dựng thành một vườn nhà sản xuất theo mô hình VAC nhằm mục đích tăng thu nhập cho gia đình cũng như vui thú điền viên. Đất này trước kia vốn thuộc đặc khu rừng Sác, một vùng quanh năm sình lầy nước mặn. Trải qua sáu năm gian khổ đổ công sức tiền của, mồ hôi, nước mắt, và nhẫn nại để nhen nhúm vườn cây ăn quả, ao cá, gian nhà, cuối cùng ông đã đạt được thành quả ngoài mong đợi. Những người bạn mà ông giao du từ thưở còn dạy học ở thành phố bắt đầu được mời về thăm chơi, nghỉ dưỡng vào những ngày nghỉ cuối tuần. Dần dần, khu vườn sinh thái nổi bật giữa không gian yên lành, sông nước xanh biếc, gió mây lồng lộng bỗng có một sức quyến rũ đặc biệt để rồi khách khứa tìm đến thư giãn, nghỉ ngơi ngày càng đông. Nhận thấy nơi đây hội đủ tiềm năng của một khu nghỉ dưỡng thích hợp cho những ai từng vật lộn, mệt nhọc chốn đô thị, nhiều người khác cũng dần tìm về đây chuyển nhượng đất và lập vườn, đào ao, nuôi cá, dựng lên những căn nhà lá ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng mát.

Điểm du lịch vườn ông giáo Sửu bắt đầu triển khai và đi vào hoạt động từ năm 1999. Thời buổi đó mọi thứ còn ngập trong khó khăn, tình hình đưa rước khách du lịch chưa được chu đáo như bây giờ. Bản thân ông Sửu cũng thiếu kinh nghiệm làm du lịch và do mô hình này tự ông kiến tạo, quá trình đầu tư, xây dựng, mở mang, phát triển chủ yếu bằng công lao của chính mình và nguồn vốn ít ỏi là chính. Cảnh quan chỉ thu hẹp trong một phạm vi giới hạn 4ha, vì thế khách đến tham quan, nghỉ dưỡng hoàn toàn tự phát.

 Đến năm 2001 từ việc kết hợp với Saigon Tourist đưa khách du lịch dã ngoại về, địa điểm Khu du lịch của ông Sửu được biết đến vào thời điểm hàng cây bọ cạp kỳ lạ trong vườn vào khoảng tháng 3 – 4 trổ hoa vàng rực cả một vùng. Từ đó cái tên Khu du lịch Bò Cạp Vàng ra đời và các tour du lịch khác cũng tìm đến như: Danatour, Hoàn Vũ tour, Fidi tour, Thương Hiệu Việt, Lửa Việt,… Đến hôm nay mọi người đều công nhận Bò Cạp Vàng đã tạo được một sân chơi bổ ích cho mọi đối tượng, đặc biệt là giới trẻ vào những ngày cuối tuần hoặc dịp lễ, tết, đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một số bà con lao động tại địa phương.

  Nằm trong khung cảnh thơ mộng, kế bên đập thủy lợi ông Kèo với hai mặt tiền giáp sông quanh năm khí hậu trong lành tươi mát, Bọ Cạp Vàng điểm tô thêm bức tranh thanh bình của vùng đất này nhất là vào những buổi bình minh, trên dòng sông bàng bạc ánh lê hồng, những con thuyền rời bến ngược xuôi, hoặc chiều xuống, không gian đẫm mùi vị mằn mặn của hơi nước từ biển tỏa ra được gió mang về. Khung cảnh hiền hòa chỉ có ở miền quê Đồng Nai trên bến dưới thuyền luôn gắn liền với những thú vui tao nhã gần gũi với thiên nhiên. Dọc theo hai bờ sông là vườn cây ăn trái được thiết kế hài hòa với gần 200 căn nhà sàn, nhà chòi lợp lá có võng nằm, ghế ngồi, xích đu hóng gió, hệ thống vòi tắm nước ngọt miễn phí, du khách hoàn toàn tự do phục vụ chính mình. Khu sinh hoạt ngoài trời, khu cắm trại dã ngoại với các trò chơi dân gian hấp dẫn như đi cà kheo, nhảy bao bố, đập heo đất, kéo co,…hết sức sinh động. Riêng những du khách thích có cảm giác mạnh thì ở đây có sẵn các loại hình mạo hiểm để có thể tham gia như: vượt cáp treo, tuột vách núi hoặc vượt chướng ngại vật,…


 Từ khu nghỉ dưỡng Bọ Cạp Vàng  du khách có thể đi đò ngang hoặc thuê xuồng xuôi sông để có cảm giác như được trở về với con sông quê hương, ngâm mình hoặc vẫy vùng trong dòng nước mát xanh, được cùng bạn bè chèo ghe len lỏi khắp các rặng dừa nước câu cá và hái hoa dại. Đêm thanh gió mát có thể thảnh thơi trên chiếc xuồng ba lá thả trôi tự do mà thỏa thích ngắm sao trời. Hòa hợp nhất với những tâm hồn nghệ sĩ là giữa không gian bao la và tịnh mịch của những khuya trăng sáng, nằm trong du thuyền nghe gió thì thầm, buâng khuâng ngâm ngợi những vần thơ nặng tình non nước.

Đã từ lâu, ẩm thực trở thành một dịch vụ không thể thiếu trong đời sống con người. Khi khu du lịch sinh thái Bọ Cạp Vàng tưng bừng mở cửa đón khách từ thành phố và những vùng lân cận tìm về nghỉ dưỡng thì việc đáp ứng nhu cầu ăn uống của khách trở nên cấp bách. Các món ăn chốn này đã làm nên một nét văn hóa ẩm thực đặc trưng: trái trên cành, cá trong ao với giá cả khá rẻ, ngon lạ, đầy tính ngẫu hứng như: bò cạp lăn bột chiên bơ, cá lóc nướng trui, thỏ nướng mọi, đặc biệt có món gà nướng thố đất hương vị rất thơm ngon đậm đà chất dân dã... được bày trên những chiếc sạp tre, hoặc trên bãi cỏ mang đúng cảnh sắc của tiền nhân thời mở mang bờ cõi đầy gian khó – một thứ văn hóa ẩm thực dung dị đúng bản chất của người Đồng Nai xưa đang bị quên lãng dần trong đời sống hiện đại giữa xu thế hội nhập, tuy nhiên vẫn được chủ nhân của Khu du lịch sinh thái Bọ Cọp Vàng gìn giữ và duy trì.

 Trong những năm qua Khu du lịch sinh thái Bò Cạp Vàng đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt người đến tham quan nghỉ mát, đa số đến từ Tp.HCM và các vùng lân cận. Hiện nay trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đã có trên 10 điểm du lịch sinh thái, phỏng theo mô hình Bò Cạp Vàng. Người dân quanh vùng bắt đầu chú trọng các dịch vụ du lịch như: mở quán phục vụ ăn uống, mua sắm ghe xuồng cho du khách thuê,… góp phần vào sự phát triển kinh tế ở địa phương, tạo cho bộ mặt phố huyện Nhơn Trạch một sắc thái mới.

                                                        LÊ THU THÙY                                                            

THẮNG CẢNH DU LỊCH


ĐẢO DỪA LỬA – HOANG DÃ VÀ BÌNH YÊN

                                               

 Hàng chục mái lá lô nhô ẩn hiện bên những vòm bần xanh thẫm, ngút ngàn những ruộng bắp ven sông và thấp thoáng đôi cánh cò nghiêng nghiêng dưới nắng chiều. Hơi nước từ dòng sông trong vắt bốc lên mang theo một ít mùi vị tanh nồng đặc trưng của bùn đất càng làm bạn cảm thấy mình như được trở về với sự chân chất, hồn nhiên. Sóng nước mênh mang, không khí trong lành mời gọi bạn tắm sông, câu cá. Đến đây bạn sẽ quên đi những căng thẳng của cuộc sống đời thường để cảm nhận cái hồn thật của  của tạo hóa.

 Là một cù lao xinh đẹp nằm ven nhánh sông nhỏ của sông Đồng Nai. Khu du lịch sinh thái đảo Dừa Lửa rộng 4ha, nằm ngay đầu nguồn nước trong xanh, biệt lập khu dân cư và giữ nguyên vẹn vẻ tinh khôi của một vùng đất hoang. Vườn đảo mới vừa được tạo lập khoảng 2 năm trước. Nhờ phát hiện ra ưu thế hoang dã và chưa hề vẩn nhiễm khói bụi của môi trường, đầu năm nay, ông chủ đầu tư Dương Thái Biên bắt đầu tạo cho đảo một diện mạo mới. Sở dĩ ông chọn đảo Dừa Lửa để đầu tư thành một khu du lịch sinh thái vì vị thế của đảo khá lý tưởng bởi cận kề Tp.HCM đang có khuynh hướng được du khách trong nước và ngoài nước ưa chuộng.

Từ TP.HCM vượt cầu Sài Gòn theo hướng ngã ba Cát Lái rồi rẽ phải chừng 6km bạn sẽ được hưởng cái thú đầu tiên của chuyến du lịch là đi phà Cát Lái. Qua phà, mất thêm 5 phút chạy xe bạn sẽ đến điểm tập kết để xuôi thuyền máy ra đảo Dừa Lửa. 15 phút ngồi thuyền máy nhìn ngắm những cánh đồng dừa nước, lau sậy và những rặng bần cổ thụ mang dáng vẻ đặc trưng của vùng đồng bằng Nam bộ giữa sóng gió mát mẻ, trong lành, bạn như lạc bước vào một thế giới hoang sơ. Gió rười rượi thổi du hồn bạn theo những con thuyền ngược xuôi trên dòng nước phẳng lặng. Món quà hào phóng nhất của thiên nhiên là nắng vàng trải dài từ sông đến hai bờ, lác đác vài ngư dân chài lưới trên sông, những chú vịt con xinh xắn nô đùa với làn nước.

 Cảm nhận đầu tiên khi đặt chân lên đảo là vẻ hoang vắng tưởng như đang lạc vào một cõi riêng của chính mình mà từ lâu đã bị quên lãng bởi sự chi phối của cuộc sống ồn ào, đông đúc phố phường. Du khách sẽ bắt gặp mình trong chính thế giới tưởng chừng biệt lập, tách ly nhịp sống tốc độ và lẽ thịnh suy ở đời. Về đây, bạn thấy lòng mình lắng đọng giữa bình yên. Ừ, thì khó có trải nghiệm nỗi cô độc của một Robinson trên hoang đảo nhưng rất có thể sự hoang vu và yên ổn đủ đưa bạn về với hoài niệm An Tiêm những tháng ngày lưu đày hải đảo. Một nét dễ thương nhưng cũng rất ấn tượng là không biết từ bao giờ trên đảo Dừa Lửa có mặt vị chủ nhân của vùng sa mạc châu Phi. Khác chăng, chú đà điểu nơi đây hiền lành đến ngơ ngác và bạo dạn đến mức du khách có thể lại gần đứng chụp hình chung như một đôi bạn thân thiết.


Do vị trí nằm giữa bốn bề sông nước nên thức ăn trên đảo Dừa Lửa phần lớn được chế biến tại chỗ. Một trong những ưu thế của đảo Dừa Lửa là tôm, cá, gà đều là “cây nhà lá vườn” nên giá các món đặc sản khá mềm. Cá lóc, cá điêu hồng tươi rói vừa câu được trong ao của đảo, đem xào nấu ngay thành những món rất “bắt” mắt. Nhà hàng rộng rãi thoáng mát phục vụ nhiều món ăn đồng quê như thịt gà thả vườn, cá lóc nướng trui, sò ốc, cua đồng... Phòng ăn với nhiều món đặc sản của 3 miền, trong đó khá nổi bật là món bánh tôm Hồ Tây đủ khiến bạn mơ về một góc nhà hàng du thuyền trên mặt nước hồ Tây giữa đất Hà Nội ngàn năm văn vật. Thái độ phục vụ của nhân viên cũng rất lịch thiệp và nhã nhặn, có phần vui tính. Bạn là người thích những món ăn khác lạ chưa bao giờ được thưởng thức trong đời thì hãy chọn  thịt bò đốt trái dừa, một thứ đặc sản độc đáo của đảo: trong cái thú lom khom tự mình thổi lửa, đã sẵn thịt bò và dừa thì theo công thức chế biến bạn làm sao cho lửa hồng thơm kèm tiếng nổ lách tách chầm chậm để trái dừa được đốt nóng, chuyển từ màu đỏ cam sang màu đỏ gạch. Rồi khi cảm nhận được mùi thơm thoang thoảng cũng là lúc vị giác được đánh thức để bạn hân hoan "thưởng" những lát thịt bò mang hương vị của nước dừa, cùi dừa rất riêng của đảo. Nếu bạn đã quen dùng thức ăn đồ uống tự chế biến tại nhà thì có thể tùy thích mang theo.

Đảo rợp mát cây xanh với nhiều dịch vụ giải trí, thư giãn: bơi thuyền, tắm sông, đạp thiên nga, đi mô tô nước, câu cá, leo cầu khỉ. Đặc biệt một không gian rộng rãi, khoáng đãng thích hợp cho việc tổ chức cắm trại, họp mặt, giao lưu cùng với những trò chơi, hoạt động dã ngoại bên cạnh các hình thức tắm sông, câu cá...Trên đảo còn có cả sân cầu lông, sân bóng đá, bóng chuyền dành riêng cho dân yêu thể thao. Nhưng có lẽ, điều thu hút khách đến đây nhất là được thả mình vào dòng nước mát lạnh. Nếu bạn không biết bơi, cũng chẳng gì phải ngại, mặc áo phao vào là có thể vô tư nhảy xuống dòng sông xanh biếc. Hầu hết mọi dịch vụ sinh hoạt giải trí, vui chơi và ăn uống trên đảo Dừa Lửa đều được niêm yết trên bảng giá một cách rõ ràng, cụ thể. Ở đây có vài thứ miễn phí như cờ tướng, cờ vua, một thư viện nho nhỏ với vài trăm đầu sách, là nơi để những “mọt sách” quen “lục tìm trong  sách vở” tìm đến nhặt nhạnh những hạt châu trong kho tàng tri thức.

Không ít du khách nước ngoài đến từ Đức, Pháp, Úc... ghé đảo Dừa Lửa thường thích nhờ các cô thôn nữ thuê thuyền chèo tay vào sâu vài cây số trên sông thăm thú khu dân cư hai bên bờ và tìm hiểu truyền thống văn hóa bản địa ở Đồng Nai.

Bạn hãy một lần qua đêm đảo Dừa Lửa, để thức dậy vào một bình minh se lạnh bởi hơi nước và gió lộng bốn bề, tắm mình trong nắng hồng lộng lẫy, tận hưởng sự phóng khoáng bao la của thiên nhiên để thấy cuộc sống nơi đây tuyệt diệu đến dường nào.

                                                                            LÊ THU THÙY

THẮNG CẢNH DU LỊCH


SUỐI TRE – CÒN NGUYÊN MÀU XANH THỜI GIAN

                                                         

 Tiền thân Khu văn hóa Suối Tre là một khu nhà nghỉ cuối tuần của những chủ đồn điền cao su người Pháp trước kia. Được mệnh danh Đà Lạt của miền Đông, Suối Tre làm say mê lòng du khách bởi vẻ thơ mộng và êm đềm. Dạo chơi dưới những tàng cây rợp bóng, hoặc hồn nhiên lăn mình trên thảm cỏ còn đẫm sương đêm của một bình minh không ồn ào, hoặc chiều xuống, trầm tư về cuộc đời trong đồng vọng tiếng chuông điểm kinh của chùa Trúc Viên Lan Nhã, Suối Tre sẽ gợi về một cõi bình yên.

 Cách thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh chừng 3 km về hướng tây Bắc, Suối Tre mang trong mình những hình ảnh tuyệt đẹp đủ sức lay động lòng người. Giữa những cánh rừng cao su bạt ngàn, thẳng tắp, một Đà Lạt thu nhỏ đang thao thức chờ du khách đến chiêm ngưỡng. Nằm giữa một vùng đồi dốc nhấp nhô, được điểm xuyết bởi dòng suối nhỏ uốn lượn dưới các chân đồi, thảm cỏ mượt xanh, đồi thông và những tàng cổ thụ bao quanh các tòa biệt thự được thiết kế xây dựng theo nghệ thuật kiến trúc Gothique gần một thế kỷ trước. Với khu đất đỏ bazan thênh thang rộng trên hàng chục hecta, ôm ấp những ngọn đồi mượt cỏ thấp thoáng sau những hàng dương rợp mát. Những cây cổ thụ sống đến hàng trăm năm, điềm tĩnh nhìn những du khách từ khắp mọi miền về chiêm ngưỡng thắng cảnh. Trên các sườn dốc thoai thỏai cỏ dại và những loài cây hoang trổ hoa lác đác quanh năm. Một bầu không khí trong lành, tinh sạch và thuần khiết càng như thêm sức quyến rũ cho cảnh quan nơi đây. Suối Tre tách khỏi khu dân cư và cách xa khu công nghiệp nên cho dù bạn là ai, từ đâu tới vẫn có cảm gíac mình được thiên nhiên tẩy sạch bụi đường. 

Suối Tre – cái tên thật giản dị nhưng khái quát được toàn cảnh bức tranh thiên nhiên. Bạn hãy một lần bơi thuyền xuôi theo con suối uốn quanh, được bao bọc bởi những bờ tre xanh ngắt và đan dày thảm cây xanh như một chiến lũy. Cây cối trên bờ đập soi mình bóng nước, những rừng cao su tít tắp chân trời. Đứng trên bờ đập nhìn một góc khác của dòng suối, du khách bỗng như lâng lâng trước vẻ hoang vu và khoáng đạt của non nước hiền hòa. Một vài du thuyền lẻ loi đậu ven bờ, và xa xa, mây trắng lững lờ trôi gợi về một cõi yên bình.

Ghé khu công trình Suối Tre, bạn như lạc bước vào vùng đất khác: thiên nhiên trầm mặc, kiêu sa mà lại dịu vợi đến nao lòng... cho dù thời gian có làm hao mòn đi dòng chảy của đời nhưng với Suối Tre thì dường như chính thời gian càng tôn tạo, cổ kính hóa vẻ đẹp của nó. Khi mà bàn tay con người chưa can thiệp thô bạo vào cõi mộng này, thì Suối Tre vẫn còn lưu giữ những khu biệt thự xây theo lối Gothique từ năm 1943 dành cho giới thượng lưu người Pháp làm nơi nghỉ dưỡng, thư giãn. Một hệ thống khu vui chơi, giải trí, như sân quần vợt, hồ bơi, vườn tắm nắng, sàn khiêu vũ mặc dù có một phần bị bỏ hoang nhưng càng rêu phong cũ kỹ thì cảnh quan này dường như càng nhuốm thêm vẻ đẹp lạ lùng. Choáng ngợp lòng bạn có lẽ là dòng cảm xúc khi khám phá những loài dây leo bò tràn lan trên các mái nhà trầm mặc, rêu xanh. Loài chim trời hồn nhiên xây tổ khắp các ngóc ngách. Bảo tàng lộ thiên, nơi lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử một thời hà khắc, tàn bạo, độc ác của thực dân Pháp là những rừng cao su già được trồng từ thời thuộc Pháp còn lại đã từng thấm đầy máu, mồ hôi, nước mắt của hàng vạn phu phen đã phải quần quật làm giàu cho bọn chủ Tây. Là đa dạng các loài cây quý hiếm trong nước hoặc được du nhập khắp thuộc địa các châu lục được nuôi trồng chăm sóc và sinh tưởng trên vùng đất này như: xà cừ sao, dầu, me tây, dương,… làm đẹp thêm cho Suối Tre hoành tráng.


 Không ai có thể phủ nhận được khiếu thẩm mỹ của những nhà thiết kế xây dựng công trình này. Đường lên nhà truyền thống là những bậc cấp xây công phu và tinh tế. Ngọn đồi thoai thoải được chia đều, sinh vật cảnh và cỏ dại điểm tô thêm một phần của bức tranh cổ kính. Gần một trăm năm với bao biến động thời cuộc, tòa nhà vẫn chưa xuống cấp là mấy và rất nhiều hiện vật, hình ảnh cùng tài liệu khoa học của Suối Tre qua nhiều thời kỳ gần như vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn. Đặc biệt, thư viện nơi đây khá lớn chứa đến hàng chục ngàn bản sách và báo chí rất cần cho những ai thích nghiên cứu, học tập, du khảo.

   Qua hàng trăm năm bị đô hộ dưới ách ngoại xâm, chiến chinh và thăng trầm thế sự, Suối Tre nhiều lần đổi chủ. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Công ty cao su Đồng Nai đã tiếp quản những đồn điền cao su bạt ngàn này và Suối Tre nằm trong sự quản lý của của đơn vị. Những công trình biệt thự, khu vui chơi, nghỉ dưỡng của bọn chủ người Pháp mà một thời những công nhân cố cựu chưa bao giờ dám mơ ước được một lần đặt chân lên đã được lãnh đạo cùng CBCNV trùng tu, tôn tạo thành Khu văn hóa Suối Tre dành cho tất cả mọi người đến nghỉ ngơi, sinh hoạt.

Với điều kiện tự nhiên lý tưởng, khí hậu ôn hòa, môi trường trong lành và hệ thống dịch vụ du lịch khang trang, nên Suối Tre có một sức hút kỳ lạ mọi đối tượng du khách. Thiên nhiên nơi đây tươi thắm, hữu tình, thích hợp cho các loại hình tham quan, nghỉ ngơi, thư giãn, cắm trại. Những ai đã phải hối hả với nhịp độ khẩn trương của đời sống hiện đại, hàng ngày tất tả ngược xuôi trên những đường phố đông đúc, chật chội đầy khói bụi  của những thành phố công nghiệp. Phải chăng khi  đã chọn Suối Tre làm không gian riêng, khoảng trời riêng để giao hòa giữa đất trời và người, và chỉ những khoảnh khắc kỳ diệu ấy, mỗi người mới trút bỏ được bao mỏi mệt sau những ngày tháng bon chen, toan tính vật lộn với cuộc mưu sinh giữa đời thường.

                                                LÊ THU THÙY




TIỂU PHẨM


KHÍ CÔNG TỐI THƯỢNG CỦA BỒ ĐỀ ĐẠT MA(!)
@
          Tiểu thuyết kiếm hiệp “Thiên Long bát bộ” kể 2 chuyện tình trái luân
thường và éo le nhất: đó là tình yêu của Diệp Nhị Nương, một cô gái
xinh đẹp, nhà nghèo 18 tuổi đã say đắm Phương trượng Huyền Từ ân nhân
của gia đình nàng, là thiền sư danh tiếng lẫy lừng trong giới võ lâm
và giữ địa vị cao tột ở chùa Thiếu Lâm, ông đã cứu chữa cha của Diệp
Nhị Nương qua cơn bệnh hiểm nghèo. Nàng đã quyến rũ Huyền Từ và có
thai với ông, sinh được một bé trai, là chú tiểu Hư Trúc sau này. Đời
cha ăn mặn, đời con khát nước, đến lượt Hư Trúc bị vướng lụy, chàng
dính phải tuyệt chiêu “kì duyên” do Thiên Sơn Đồng Mỗ sắp đặt. Là một
tiểu tăng với chàng việc chính yếu là tu tâm dưỡng tánh, giữ giới đức,
nhưng chàng bị Thiên Sơn Đồng Mỗ ép ăn thịt, uống rượu và ân ái với
Mộng cô Ngân Xuyên (công chúa Tây Hạ). Đại nguyện tu thành chánh quả,
dứt dục căn, thoát luân hồi, thuyền từ về Tây Trúc của Hư Trúc kiếp
này tiêu tan.
Đó là tình yêu vô luân trong truyện kiếm hiệp Kim Dung. Với tôi xưa
nay những chuyện như: táo rụng sân đình, gái rình của chua, tăng, ni
phá giới, nhà sư vướng lụy, ni cô có bầu, thất tình, thất tiết, thầy chùa có con hoang, sư hổ mang, hổ chúa... cũng là chuyện vui vẻ cả, ai cũng con người, lầm lỗi ấy
mình chấp nhận được. Có người bị phát giác hổ thẹn tìm đến cái chết,
có người gặp được giải pháp có hậu, sống hạnh phúc trong tình yêu.
Đề cập chuyện tình kiếm hiệp, chuyện thiền, phật học chỉ vì có lần
một ông cư sĩ dạy phương pháp thiền gọi là Bát Nhã khí công (Ông khoe
đó là Khí công tối thượng của Bồ đề Đạt Ma). Tôi tập khí công chữa
bệnh nhưng tập xong lại bị chính ông cư sĩ đó và tay chân của ông ta
bức bách thở không ra hơi gần 10 năm nay. Chưa ai giúp tôi luyện được
những hơi thở kéo dài, mạnh mẽ. Vậy mà như ông cư sĩ đó nói, Khí công
tối thượng của Bồ Đề Đạt Ma mà ông ta dạy tôi chính là Chánh pháp nhãn
tạng ông ta được truyền thừa từ sư phụ là Tổ sư thiền. Tìm hiểu về khí
công, tôi được biết: Trong ý nghĩa quân bình hơi thở, khí công có
nguồn gốc từ cách luyện thở của người xưa, ngay từ thuở hồng hoang có
sự hiện diện loài người trên trái đất này là có thầy dạy khí công. Căn
cứ vào văn hóa cổ truyền Đông phương, khí công đã được áp dụng qua các
phương pháp thực hành, và triết lý dẫn đạo, hầu hết, trong ba môn học:
Y học, Đạo học, và Võ học…
Bồ Đề Đạt Ma đã luyện thở như thế nào? Huyền thoại Bồ Đề Đạt Ma viết
rằng: sau khi bị đầu độc, ngài tắt thở, tưởng chết, đệ tử an táng ngài
trong quan tài, đem đi chôn. Ba năm sau một vị quan nhà Ngụy tên là
Tống Vân đi sứ Tây Vực khi qua ngọn Thông Lĩnh thì gặp Bồ Đề Đạt Ma
đang đi như bay về hướng Tây, vai vác cây gậy có móc một chiếc giày.
Tống Vân về đem chuyện gặp Bồ Đề Đạt Ma trình lại với vua. Nghe xong
vua ra lệnh quật mộ ngài lên để kiểm chứng. Khi quan tài được mở ra,
bên trong thi hài biến mất, chỉ thấy một chiếc giày…
Như vậy, khí công tối thượng của Bồ Đề Đạt Ma là khả năng luyện thở
đến chỗ nằm trong quan tài ngưng thở 3 năm mà vẫn đủ sức quật mồ, hành
cước từ nước này sang nước khác (Xin nói thêm đây là chuyện trong huyền thoại, còn đâu là sự thật, tôi không biết).
Nửa năm trước tôi tìm đến tá túc trong một ngôi chùa để chữa bệnh.
Chùa có Tịnh dưỡng đường, phòng Dược sư và tủ thuốc từ thiện. Cứ mỗi
chủ nhật hàng tuần nhà chùa phát thuốc chữa trị miễn phí cho bệnh nhân
trong vùng. Ngôi chùa này do sư cô Tâm Hà trụ trì. Có kẻ đã điều khiển
cô Như Bảo đang dạy ở trường Phật học về thay mẹ làm thầy tôi. Hàng
tuần Hoài Thu Tử làm thầy thuốc Đông y đến chữa bệnh từ thiện ở đó. Anh
đã xin cho tôi vào tu trong chùa từ 15 năm trước. Hồi đó con gái còn
nhỏ, lúc thì tôi đến ở lại chùa vài ba tháng, lúc vài ba tuần, lúc vài
ba ngày. Lần này mới vào chùa chưa được nửa năm, những tưởng nương náu
suốt đời, nhưng tôi đã bị những kẻ xấu ác phá tung mọi thứ nên quay về
nhà.
Một lần Hoài Thu Tử kể chuyện thời trẻ rằng: anh đã tu ở chùa, lại yêu
một ni cô, anh làm ni cô sợ và anh bỏ đi lang thang. Anh không tự dối
lòng, là kẻ tu hành tài hoa đang đắm chìm trong khổ lụy, vì không thể
thực sự quên hết người thân khắp ta bà, khi mà lưới tình bủa rộng cả
tam thiên đại thiên thế giới, bao vây những kẻ đa tình nương náu chốn
cửa thiền lại chìm trong giấc mơ yêu đương. Lần đó anh gặp một phụ nữ
có thai, chị bị người tình bỏ rơi, phải nhảy sông tự tử, anh cứu được,
đưa về nhà cưu mang, sống đời vợ chồng. Năm nay anh đã có cháu nội.
Thực tế, anh tôi có thầy, coi ai cũng không bằng thầy, khi thầy mất, anh thờ thầy, và số anh có ngày giàu sang, nhưng hồi ấy, anh chỉ là thư sinh, mới biết làm thơ, đọc sách, tương tư 1 cô nàng,…
Anh mở mắt cho tôi hiểu là cái ông cư sĩ Nguyên Giác dạy Bát nhã khí
công ấy chỉ chờ đợi một ca như tôi. Mà phải yêu ông ta (hoặc không
được yêu ông ta) mới được!
Tôi nói với cô Thích Nữ Như Bảo tiến sĩ phật học ở Ấn Độ mới về chùa trụ trì là
tôi học văn tạm đủ để đọc, để viết. Từ khi có internet đến nay, tôi
đọc trực tuyến mọi thứ, và các bài viết của những Ph.D phật học/ văn
học như cô chỉ là muối bỏ biển. Chỉ vì Như Bảo cứ đòi tôi gọi cô “sư
phụ”. Cô theo mẹ vào chùa xuất gia hồi 1, 2 tuổi. Năm 28 tuổi nhận
bằng tiến sĩ phật học. Ngày trước cha cô, một sĩ quan chế độ cũ mãn
hạn tù về được xuất cảnh theo diện H.O nhưng mẹ cô quyết chọn cho mình
và 2 con gái ngôi chùa, dứt khoát không đi Mỹ. Tôi yêu quý cô không
nổi, sùng kính cô không xong. Tôi bảo cô nên kiếm một anh tiến sĩ phật
học để yêu, cô lại không ưa phóng túng. Mà cô chưa biết đau, chưa bị
sóng gió bão tố cuộc đời, chưa bao giờ là nạn nhân của tội ác, chưa ai
yêu cô, đời cô êm ru, nhỏ hơn tôi vài tuổi mà cô cứ êm đềm, ấm áp, an
ổn... nhưng cô cứ cầm điện thoại alo một gã đàn ông ác hại để hắn dạy
cách tiêu diệt tôi, lại còn thăm hỏi Văn Cầm Hải du học tận Trường
Viết văn quốc tế Iowa, như thể cô tương tư kẻ giang hồ đàng điếm từng
lên tới Tây Tạng đó và có những dây mơ rễ má với bọn tay chân của ông
cư sĩ dạy Bát Nhã Khí Công. Tội ý nghĩ cô Như Bảo nên kiếm 1 anh tiến sĩ phật học để yêu, gặp anh như anh Thích nhật Từ cô ta sẽ biết thế nào là đàn ông xuất gia, tu hành sớm thành đạt.
Khi tôi vào chùa bọn nào cứ đục mỏ vào
chùa như sâu đục thân, cứ đàm tiếu, thị phi với các thầy bà rằng LTT
làm mất chánh pháp(!)
Cứ cho là tôi có chánh pháp mà vào chùa cắt trụi, thậm chí phải cạo
trọc luôn rồi đắp y, làm lễ tấn phong, qua trường phật học, nỗ lực để
du học lấy bằng tiến sĩ phật học, về nước, làm pháp sư, giáo sư, thăng
tòa sư tử....đến lúc đó phật tử xếp hàng đảnh lễ, lạy lục, xin được
làm người truyền thừa đời sau hay sao?
Thường tùy học phật có nghĩa là đem những kinh điển của phật giáo áp
dụng tu học. Bộ kinh Đại bát nhã ba la mật đa 600 quyển, kinh nguyên
thủy như: Tương ưng bộ, Trường bộ kinh, Tăng chi bộ, Trường A hàm,
Kinh pháp cú ... tổng cộng cũng gần ngàn quyển, những kinh sách đại
thừa hoặc tông phái, hệ phái khác phải kể là thiên kinh vạn quyển.
Ma ha bát nhã ba la mật đa! Bao giờ tôi qua đến bờ bên kia, đạt đến
trí tuệ cứu cánh rộng lớn? Bát Nhã khí công, khí công tối thượng của
Bồ Đề Đạt Ma hay Chánh Pháp Nhãn Tạng xem ra cũng không giúp ông cư sĩ
Nguyên Giác tốt hơn dùm. Tôi phải gọi ông là sư phụ Nhạc Bất Quần, về
chỗ sư phụ nhạc bất quần, một đại ma đầu chuyên giết người dấu tay tôi
sẽ viết vào một dịp khác. Mà sao mấy con sâu đục thân coi bộ ganh
ghét, đố kỵ với tôi đến tuyệt vọng vậy. Thử đến tận nơi mà nhìn tôi:
hiện tại tôi đang ngập lụt, trong một tháng quê tôi phải hứng 4 trận
bão và 3 cây lụt. Nước mênh mông. Có bờ bên kia hay không? Đéo biết!
Có người hỏi: "sao Thùy vào chùa?" Tôi đã cười cợt: “bây giờ chùa chiền đã trở thành chùa nhà của gia đình ngươi ta. Họ tu họ giàu, tôi đi ở đợ quét chùa, lau chùa, giữ chùa cho họ!”
                                               
Lê Thu Thùy




TRUYỆN NGẮN


BÍ MẬT CỦA GIA ĐÌNH TÔI

Sau ngày ba tôi qua đời được ba năm, tôi mới tình cờ tìm thấy quyển nhật ký bìa da của ông nằm cùng cuốn phả hệ dòng họ Huỳnh được ông chôn cất dưới một căn hầm bí mật được xây từ thời chiến tranh. Cuốn nhật ký đã ố vàng, có nhiều nơi giấy rã mục. Tò mò muốn biết một người như ba còn có tâm sự gì mà đi ghi nhật ký, tôi lân giở từng trang để độc. Phải cố gắng lắm tôi mới đọc hết những gì ba viết. Đọc xong tôi bàng hoàng. Tất cả những gì tôi biết về gia đình mình bị đảo lộn hoàn toàn.
Tôi lớn lên trong sự dạy dỗ, dưỡng dục đầy tình thương của ba và vòng tay dìu dắt chở che của hai người mẹ. Suốt thời thơ ấu tôi là đứa trẻ sung sứng nhất vì được đến hai bà mẹ cưng chiều. Tôi không quá nhiều băn khoăn ai là mẹ đẻ ra mình. Cả hai bà mẹ tôi đều yêu thương, kính trọng và quyến luyến như nhau. Tôi gọi người mẹ thứ nhất là mẹ và người mẹ thứ hai là . Tôi cũng không hề thấy có sự khác biệt trong các mối quan hệ của má, mẹ và ba. Ba tôi không phải là người đàn ông duy nhất cưới đến hai bà vợ. Dòng họ Huỳnh vốn nổi tiếng với tục đa thê.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ba tôi vốn là một sĩ quan dưới chế độ cũ phải đi tập trung lao động cải tạo. Thời gian học tập của ba kéo dài đến sáu năm. Tôi sống bình yên cùng hai người mẹ của mình trong ngôi nhà cũ và chờ ngày ba mãn hạn trở về.
Cũng trong thời gian này người mẹ thứ nhất của tôi bệnh nặng, đúng hơn là bệnh bà phát đã lâu, nhưng tôi còn nhỏ nên không được người lớn cho biết. Chỉ khi bà sắp lìa đời tôi mới biết. Đó là năm tôi lên mười, tôi có thể tự tay tắm rửa và thay áo quần cho mẹ. Tôi cùng với má hết lòng chăm sóc bà nhưng rồi cái chết đã cướp đi người mẹ thân yêu của tôi.
Tôi và má đã khóc như mưa như gió bên thi hài mẹ. Tôi vẫn còn nhớ như in trước khi mất, mẹ đã dặn tôi rằng, mẹ đã không sống lâu bên tôi được, không nuôi dạy tôi thành người. vậy từ nay, ai nuôi dạy tôi thì tôi hãy coi người đó là mẹ đẻ của tôi, và tôi phải hết lòng hiếu thảo.  Mẹ còn bắt tôi thề không chơi bời lêu lổng để má tôi luôn vui lòng.
Bấy giờ, cũng như má, tôi chỉ biết khóc và khóc, tôi còn nhớ như in má tôi trước đó không lâu đã quỳ bên giường mẹ, hứa với mẹ là sẽ dạy bảo tôi nên người, má còn thêm rằng nếu có mệnh hệ gì xảy ra với mẹ, thì ba má, và cả tôi nữa, sau này lớn tôi lớn lên, sẽ một lòng thờ phụng.
Mẹ chỉ cười nhợt nhạt và bảo má rằng: em cứ nói thẳng là chị chết, em sẽ chu đáo việc ma chay và chuyện giỗ kỵ!
Không có ba ở nhà, nên mới mười tuổi, tôi được mẹ dặn dò, ủy thác nhiều điều. Mẹ thật sự coi tôi như một người đàn ông.
Cả hai người (mẹ và má) đều biết mẹ không qua khỏi cơn bạo bệnh. Bệnh máu trắng ở mẹ vào thời buổi đó không một phương thuốc hoặc một phương tiện cấp cứu nào đủ sức duy trì thêm dù chỉ một thời gian ngắn sự sống của người mẹ trẻ của tôi.
Cũng nói thêm rằng từ ngày mẹ mất đi, tôi nghiễm nhiên xem má là mẹ đẻ ra mình. Khi đến chơi nhà và trò chuyện với các bậc cha mẹ của những đứa bạn học hoặc bạn thợ cùng khu phố, tôi kể cho họ biết rằng: ba tôi cưới mẹ nhưng không có con. Sau đó mới cưới má và sinh ra tôi. Mẹ thương yêu tôi chẳng thua gì má. Nhưng mẹ đã mất vì bệnh rồi.
Hai má con tôi sống bình yện và trong tôi, hình ảnh người mẹ lớn mờ nhạt dần theo năm tháng. Không phải tôi không thờ kính mẹ, nhưng tình mẫu tử thiêng liêng của má tràn ngập tuổi thơ tôi, nhất là từ khi mẹ lớn qua đời, ngôi nhà rộng lớn chỉ còn hai mẹ con, nỗi đợi chờ ba và sự vắng vẻ càng khiến hai mẹ con thương yêu nhau hơn. Thoảng hoặc, tôi thấy má thắp hương trên bàn thờ mẹ với hai hàng lệ chứa chan và khẩn nguyện rằng, dù sao đi nữa thì cu Huy (tên tôi) cũng là con của chị em mình, rằng sẽ không bao giờ em dành nó cho riêng em. Sẽ đến lúc em theo về bên chị, con sẽ làm giỗ cho cả hai chị em mình,…

*

Ngày ba tôi trở về tôi đã lớn đến mức ba bảo ba không nhận ra tôi, nếu gặp tôi ở ngoài đường ba không biết tôi là con của ba. Cả tôi và má đều hiểu đó là một lời khen. Ba cũng không quá buồn trước cái chết của người vợ lớn. Ba biết mẹ mắc trọng bệnh từ lâu. Bệnh của mẹ được bệnh viện phát hiện từ khi tôi chưa có mặt trên đời này. Điều đáng sợ hơn với cha con tôi là cả má tôi cũng mắc bệnh ấy nhưng mãi sau này tôi mới biết.
Năm ấy tôi mười sáu tuổi nhưng ba đã cư xử với tôi như với một người đàn ông trưởng thành. Hình như quá nhiều biến cố trong đời khiến ba trầm tĩnh hơn và nghiêm nghị hẳn đi.
Ba vẫn rất mực thương yêu và nghiêm khắc với tôi. Hằng năm, đến kỳ lễ lạt, cúng kỵ, ba thường nhắc nhở hoặc chỉ dẫn cho tôi thực hành những nghi thức. Gia đình tôi sống trong cảnh thanh nhàn và êm đềm như bao gia đình khác giữa thị xã xinh đẹp này.
Khi được chính phủ Mỹ bảo lãnh cho cả gia đình xuất cảnh theo diện H.O ba hỏi tôi có thích đi không. Tôi trả lời rằng tùy ba quyết định. Thật ra, tôi thấy mình sống ở đâu cũng vậy. Má tôi là người giỏi buôn bán và tôi vừa học vừa phụ giúp má nên giờ đây tôi chỉ muốn nghỉ học về quản lý cửa hàng, thật lòng tôi chẳng muốn đi xa. Tôi và những người hàng xóm, họ hàng tin rằng ba rất muốn ra đi. Thế nhưng ba tôi bảo rằng mình sống như thế này cũng là đầy đủ, rời quê cha đất tổ làm gì.
Cũng trong thời gian này má thường đóng cửa hàng và đến bệnh viên cùng ba. Tôi học xong má mới cho tôi biêt má bị bệnh nặng, má cũng mắc phải căn bệnh máu trắng khủng khiếp đã từng cướp đi sự sống của mẹ tôi trước đây.
Theo như má nói thì má chẳng còn sống được bao lâu nữa. Tôi cũng đã lớn rồi tôi nên biết sự thật.
Đó là những ngày buồn nhất trong gia đình tôi.
Càng ngày má càng đến gần cửa tử mà tôi thì bất lực, không cứu được má. không có nơi đâu bán loại thuốc tiên chữa lành bách bệnh để tôi tìm mua về má uống cho khỏe mạnh.
 Gần một năm sau ngày tôi biết rõ bệnh tình của má thì má tôi qua đời.
Thiếu má, tôi mới cảm nhận hết nỗi bơ vơ của một thằng con trai không mẹ. Ba thì suốt ngày chỉ vui thú bên bàn cờ với những người bạn cao niên và giao toàn quyền quản lý cửa nhà, hàng quán cho tôi.
Từ nhỏ cho đến ngày tôi cưới vợ, ba chưa bao giờ nói năng nặng lời, hoặc la mắng, thúc ép tôi về bất cứ chuyện gì. Tôi sống cạnh ba cho đến ngày lập gia đình và sinh cả đàn con.
Cũng như bao ngưởi già khác. Ba không thoát được cái quy luật khắc nghiệt của kiếp người: sinh – lão – bệnh – tử.
Năm tôi bốn mươi tuổi ba ốm nặng và qua đời.
Trước phút lâm chung, ba có điều gì đó muốn nói với tôi nhưng đã không nói được. Đàn con thơ của tôi đã gục lên ngực ông nội khóc nức nở. Tôi chưa từng chịu nổi đau nào lớn như thế trong đời. Tôi xin ba đừng nói bất cứ điều gì. Tôi thề sẽ thờ ba kính mẹ và làm đẹp lòng tổ tiên.
Bây giờ tôi đã lớn tuổi và tôi hiểu. Tôi là đứa con trai độc nhất trong gia đình.
Có lẽ ba sợ tôi không thành kính thờ phụng một trong hai ngưởi mẹ của mình. Hoặc còn điều gì khác nữa không dễ bộc bạch.
Tôi đã khắc cốt ghi tâm suốt đời rằng ai cũng là mẹ và tôi là con của họ.
Bỗng nhiên cuốn nhật ký mở ra một sự thật khác. Những dòng tâm sự của ba lúc về già càng chứng tỏ ba nghiền ngẫm, suy nghiệm nhiều mới dặt bút viết lên.

*

Ba đã suy nghĩ rất nhiều và vì cái lợi của dòng họ ba thấy rằng không nên viết cho con cháu biết sự thật này. Nhưng nếu không viết ra, mang theo bí mật này đi vào cõi vĩnh hằng, thì ba sẽ là người thiếu trung thực. Mà ba dạy con sống phải ngay thẳng. Vậy nên  thì dù thế nào đi nữa con cũng nên biết rõ hơn về quan hệ huyết thống của con trong gia đình.
Con không phải là con đẻ của ba mẹ!
Sự có mặt của con trong gia đình bao giờ cũng đem  lại niềm vui, sự ấm cúng và tình cảm chan hòa giữa mọi người nên con không hề  là gánh nặng của ba và các mẹ, vì thế con được thương yêu và trong khối óc, con tim của ba mẹ con đã là người ruột thịt từ thuở mới chào đời.
Ba đã từng cưới hai người vợ. Chuyện hôn nhân này thời trước được pháp luật chấp nhận và hai người phụ nữ của đời ba chung sống với nhau hết sức thuận hòa. Dù thỉnh thoảng có xảy ra xích mích, cãi vã  giữa họ nhưng chỉ toàn những điều vụn vặt,  chưa bao giờ vì lý do ghen tuông mà có chuyện như vậy. Ai cũng khen ba khéo dạy vợ, ba chỉ cười. Giá mà con biết trước khi là vợ ba, họ là bạn thân và chơi với nhau suốt quãng đời thơ ấu, đến tuổi trưởng thành  cả hai cùng yêu ba. Họ đã từng dọa ba là một trong hai người sẽ tự sát nếu ba cưới người này mà bỏ rơi người kia.
Ban đầu ba rất hãnh diện với bạn bè bởi được lòng hai người đẹp, thế nhưng về sau, nhiều biến cố xảy ra khiến ba tự trách mình rất nhiều về tính phóng túng vốn là bản chất của các chàng lính chiến lúc còn trẻ trai. Ba đã đùa giỡn trên tình yêu của hai cô gái ấy mà họ thì không tự biết. Họ lúc nào cũng tin tưởng và tôn thớ ba như một thần tượng của đời mình.
Một lần các chiến hữu thách thức ba thử đo lường tình cảm của các cô bằng cách phao tin ba bị thương sắp chết xem  thử họ có thương tiếc không. Ba đã liều lĩnh chấp thẳng tay cánh bạn hữu, và rồi, chỉ mới nghe một chú lính đùa rằng ba đi trận, dính đạn phái phải nằm lại ở bệnh viện tiền phương, thế là  hai cô đã rủ nhau đi tìm ba.
Không ai ngăn cản họ được bởi họ ra đi một cách bí mật mà thân gái dặm trường, lại nữa, buổi trận mạc, tính mạng con người như con giun, con dế. Họ tưởng ở đâu cũng êm đền như nơi góc phố họ sống thì biết làm sao.
Chuyến đi đó hai chị em  lạc vào một vùng bị rải chất khai quang. Mãi sau này ngã bệnh cùng lúc, xét nghiệm máu ba và hai người mẹ của con mới biết. Trước đó, không ai, kể cả ba biết được những điều khủng khiếp  này.
Lần đó ba thì an toàn nhưng tai họa đã đến với hai người bạn gái thân yêu. Khi gặp lại họ ba chỉ còn cách duy nhất là cưới cả hai vào hai thời điểm khác nhau. Các cuộc hôn nhân này không có điều tiếng gì vì từ lâu, ba đã nói xa nói gần về họ và ai cũng tán  đồng giải pháp ba cưới hai vợ.
Nhưng việc sinh con đẻ cái  như những người đàn ông khác đã có gia đình với ba  là điều không đơn giản. Bệnh tật đã gây cho hai bà  mẹ của con những hội  chứng bất thường về sinh lý và máu bị nhiễm độc nên bác sĩ khuyên họ không nên sinh con. Họ đã cố hết sức chữa bệnh nhưng cuối cùng thất bại và phải chọn giải pháp tìm một đứa con nuôi.

*

Ba xin được con ngay tại bệnh viện  thị xã quê nhà.
Người mẹ trẻ sinh con thuở đó đang gặp một điều bất hạnh và quá lo lắng, sợ mình không nuôi dưỡng nổi con.
Chị ta tâm sự với ba rằng chồng chị ta trốn lính nên đã không có mặt bên chị ta lúc chị sinh nở. Mọi lần, việc một mình đến bệnh viện sinh con với chị ta không có vấn đề gì.
Cả hai đứa con trai  chị ta sinh những lần trước  đều mẹ tròn con vuông và lần sinh nở này cũng thế. Nhưng cái khó lần này là chị ta sinh đôi: một trai một gái, một mình đưa hai đứa trẻ sơ sinh về một vùng quê nằm trong vòng bom đạn là điều khó nhọc nên chị ta chưa biết mình phải xoay sở thế nào.
Lúc ấy ba đã có ý muốn xin con nuôi nên bắn tiếng cho những người y công hoặc  hộ lý ở bệnh viện rằng có ai muốn cho con thì xin giúp ba một đứa. Ngày kia người nữ y công nhắn ba mẹ tới và mẹ con năn nỉ sản phụ  để xin một trong hai đứa trẻ sinh đôi.
Biết sản phụ đã có hai đứa con trai đầu lòng. Mà ba thì khao khát có một đứa con trai. Vì thế ba quyết xin cho được con về nuôi. Thuyết phục một hồi, sản phụ cũng đồng ý.
Lúc đó, hai người mẹ của con đều sướng rơn khi xin được con.
Một cậu bé đáng yêu không tưởng tượng được.
Biết sản phụ rứt ruột đẻ ra con rồi cho con đi cũng buồn nhưng ba cần một đứa con quá đỗi nên chẳng thể làm gì khác được ngoài cái việc đem con về nhà.
Người đàn bà ấy có cho ba địa chỉ theo căn cước của chị ta, nhưng ba đã để lạc đâu mất, rồi ba cũng không cố ý tìm lại, vì hơn tất cả, ba muốn con là đứa con ruột của ba, trên danh nghĩa cũng là trên thực tế.
Con đã lớn lên trong vòng tay ba mẹ như con đã biết.
Từ nhỏ đến khi con lớn, mọi thứ chẳng có gì đặc biệt trong ngôi nhà mình, trừ những biến động của đất nước, và  vai trò xã hội của ba cũng thay đổi. Thật ra, tuy là người lính nhưng  ba chán ghét chiến tranh. Lớp thanh niên cùng thời với ba, đến tuổi thì phải vào lính, đa số đều tử trận.  Cuộc sống của ba  thời bình  thật sự yên ổn. Làm sao ba không thấy tràn đầy ơn phúc khi con bình yên và thành đạt trong thời buổi này.
Con sống hiếu thảo nên lúc nào ba cũng hài lòng vể con. Còn con thì cứ đinh ninh con là con đẻ của ba.
Mà con cũng thật sự là con của ba từ tâm hồn đến thể chất.
Thư này ba xin tạ lỗi với  con là ba thật sự đánh mất địa chỉ của người mẹ đẻ ra con. Bệnh viện nơi con được sinh ra cũng thay người đổi chủ. Ba đã cố công tìm kiếm người quen xưa hỏi thăm còn ai biết đến mẹ con không nhưng không thu được kết quả.

 *

Những bí mật của cuộc đời tôi gói gọn trong câu chuyện trên. Tôi đã cố lục tìm đống giấy tờ để có manh mối về ba mẹ đẻ của mình không nhưng chỉ gặp toàn sổ sách, chứng thực về ba với sổ ghi chép quãng thời gian ba sống ở trại cải tạo.
Hơn một năm nay tôi bỏ rất nhiều công sức, thời gian tìm kiếm tông tích của mẹ đẻ ra mình nhưng chẳng thu được kết qùa gì.
Cuối cùng, tôi hiểu rằng ba tôi đã nói đúng. Một khi chọn tôi làm con nuôi ba quyết tâm không muốn giữ liên hệ, manh mối gì của ba mẹ ruột tôi.
Tuy không mang nặng đẻ đau nhưng ba mẹ đã nuôi dưỡng tôi, công ơn trời biển này làm sao tôi quên được.
Tôi vẫn thờ kính tổ tiên và mẹ cha như mọi đứa con trai trên cõi đời này.
                                                                                                               LÊ THU THÙY

BÀI Đăng THEO THỨ TỰ NGÀY THÁNG

TRUYỆN NGẮN

TẬP TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC                    TÁC GIẢ: LÊ THU THÙY                            1. NHỮNG DẤU CHÂN MỜ XA               ...