ĐIỀM MỘNG
GIỮA RỪNG
*
Tôi
có một người anh họ khá kỳ quặc, lần nào tôi đến chơi nhà cũng nghe anh nhắc
đến cái chết của một người bạn rừng. Qua trí tưởng tượng của tôi, tình bạn của
anh với người bạn ấy chắc nồng hậu như tình huynh đệ của các anh hùng Lương Sơn
Bạc. Có lần tôi nói thẳng ý nghĩ đó của mình thì chị vợ anh lắc đầu, chị bảo
anh bị loạn óc từ sau cái chết của người bạn, gặp ai cũng nhắc tới anh ta. Cứ
theo cách lập luận của chị thì vì bạn chết, anh không còn người chí cốt chia
ngọt sẽ bùi nên đâm ra lẩn thẩn.
Tôi
thì không nghĩ vậy nhưng không biết giữa anh với vợ anh, ai sai, ai đúng. Đằng
nào thì hình ảnh người quá cố đã trở thành nỗi ám ảnh riêng anh. Mà con người
anh sống rất có đạo lý, trọng nghĩa tình. Mỗi khi có một người thân quen qua
đời dù đang gặp trở ngại hoặc ốm đau, bận rộn thế nào đi nữa anh cũng đến viếng
thăm, tiễn biệt hoặc thắp cho họ ném nhang để sưởi ấm linh hồn người đã về bên
kia thế giới.
Một
lần đi cùng anh ra nghĩa địa thắp hương một người bà con. Sau khi thành kính
đốt nhang và đặt bó hoa lên mộ, anh bỗng trầm tư hỏi tôi như muốn giãi bày một
điều gì:
- Em
có biết vì sao vợ chồng anh phải rời bỏ vùng miền núi Trà Mi để vào đây chen
chúc mưu sinh không? Chắc không bao giờ em biết được. Anh đị vì bị ám ảnh bởi
một điềm mộng liên quan đến một người bạn rừng bị chết mất tang. Anh quá sợ
những chuyến đi rừng từ sau cái đêm gặp lại linh hồn của anh ta, để rồi như em
thấy đấy, từ một con thú hoang ngang dọc khắp núi rừng, không biết sợ là gi, bây
giờ anh thu lu như một như một sinh vật cảnh bị trói chân, trói tay, vô phương
vùng vẫy.
Rồi không cần biết tôi có muốn nghe hay câu
chuyện mà vợ anh thường diễn tả một cách hài hước và bóng bẩy là “điệp khúc thác oan của ông bạn nối khố” hay
không, anh hối hả kể như thể sợ không kịp kể thì ngoài anh ra không còn ai biết
được những bí ẩn mà anh chôn vùi trong lòng.
*
Cái
thuở anh còn trồng chè, buôn quế, tìm trầm ở Trà Mi và các huyện miền núi Quảng
Nam ,
anh có hai người bạn rừng thân thiết và lập thành bộ ba làm ăn chung. Các anh
đã từng cắt máu ăn thề là giàu sang cùng hưởng, khó nhọc cùng chia sẽ và sống
chết có nhau.Thật sự cả ba đã giữ lời thề từ lúc còn độc thân cho đến khi tất
cả lần lượt yên bề gia thất.
Nhóm
của anh ban đầu làm ăn cũng không đến nỗi nhưng về sau cứ thất bát, một phần vì
đối thủ cạnh tranh quá đông, phần khác bọn anh chỉ quen sử dụng những phương
tiện thô sơ để khai thác, trong khi lâm tặc ngày càng hoành hành và có những
phương tiện hiện đại hơn.
Một
lần anh bị sốt rét nặng nên đã không vào rừng. Một trong hai người bạn của anh
đến than phiền là đang lúc khó khăn dù chỉ hai người cũng phải đi núi. Anh thấy
lo lắng nhưng cũng an ủi hai người bạn rằng mình sẽ sớm khỏi bệnh. Mong họ chờ
cho ít ngày, nhưng họ đã không chờ, và anh nghĩ chắc cũng chẳng có chuyện gì
đáng tiếc xảy ra. Vài ngày sau thì anh khỏi bệnh và nằm dài trên giường chờ họ
sớm về để cùng nhau thực hiện chuyến đi khác.
Một tuần sau một trong hai người bạn trở về và
đến cơ quan xã trình báo người bạn rừng đồng hành với anh ta trong một cuộc bơi
vượt suối đã bị lũ cuốn mất tích. Gã đã cố công tìm kiếm nhưng kết quả thật vô
vọng.
Anh
họ tôi và các chiến sĩ công an cùng người nhà của nạn nhân đã vào rừng tìm xác
nạn nhân. Các anh đã khảo sát khắp đoạn suối, dò vào từng hốc cây, khe đá nhưng chẳng phát hiện được gì. Sau một trận lũ
rừng, mọi thứ bị mưa lũ quét sạch, không để lại một chút dấu tích, và anh tôi,
chẳng thể làm gì khác hơn là từ đó về sau chỉ đi rừng một mình vì người bạn còn
lại đã bỏ nghề.
Mọi
thứ sẽ chẳng có gì đáng nói vì người còn lại, tức kẻ thứ ba trong nhóm ít lâu
sau chuyển toàn gia đình xuống Đà Nẵng mở cơ sở kinh doanh các mặt hàng lâm sản.
Gã đứng ra thu mua hàng của dân khai thác rừng tuồn về. Gã giàu nhanh đến nỗi
ai cũng bất ngờ trước tài làm ăn của gã. Anh họ tôi hỏi lấy đâu ra vốn để kinh
doanh thì gã trả lời rằng có người bà con ở Mỹ gửi tiền về giúp đỡ. Mọi người
tạm tin như vậy vì đúng là gã có người bà con xa ở nước ngoài thật, và thôi thì
ai nhờ được kẻ giàu người đó hưởng lợi. Chẳng ai băn khoăn nhiều về gã nữa nhất
là giờ đây, cả nhà gã đã chuyển đi.
Anh
họ tôi vẫn cứ phải thui thủi vào rừng. Công việc làm ăn càng ngày càng bế tắc.
Thời kỳ này anh phải nhập bọn với cánh thanh niên trẻ. Đám thanh niên này đều
chưa vợ, chưa bị gánh nặng mưu sinh đè xuống hai vai. Họ đi rừng như để thử
thách tính mạo hiểm, còn việc làm ăn thì được chăng hay chớ.
Chính
vì coi mục đích đi rừng như những chuyến phiêu lưu nên đám thanh niên thường
ngủ lại qua đêm ở bất cứ nơi nào mà họ thấy tốt nhất. Đặc biệt, một ngôi miếu
hoang giữa rừng ngày trước bộ ba của anh tôi mỗi lần ngang qua đó còn thấy ớn
lạnh nhưng cánh thợ rừng trẻ lại chọn làm nơi qua đêm thường xuyên. Họ bảo ở
miếu thì không sợ mưa dột. Anh tôi không thể tách khỏi nhóm và vào rừng ngủ một
mình nên bất đắc dĩ đêm đêm phải ngủ cùng họ.
Đêm
nọ, anh họ tôi đang ngủ bỗng nghe ai đó gọi tên mình. Ban đầu anh cứ tưởng một
trong số những bạn rừng cần điều gì đó ở mình. Anh ngồi phắt dậy la lối vì cái
người đó đang đêm cứ quấy rầy, không cho anh ngủ. La một hồi, anh nằm xuống,
lại nghe gọi, anh mới biết rằng không phải một trong số những bạn rừng gọi anh.
Chuyện
ma mị giữa rừng anh tin có thật, nhưng anh cũng tin ở tay ấn ông thầy bùa đã
cho anh lá bùa hộ mệnh cực mạnh và không một thứ hồn ma bóng quế nào ám vào anh
nổi.
Vậy
nhưng đêm đó có một bóng ma đã ám ảnh anh. Chính xác hơn là anh đã gặp nó trong
giấc ngủ chập chờn và sau này anh hiểu ra nó ứng mộng chứ không phải hiện hồn
về trò chuyện.
Điều
khiến anh kinh hoàng và bỏ nghề khai thác rừng là hồn ma đó nhận mình là người
bạn rừng của anh đã mất tích trước kia. Ông ta không thay đổi mấy và than khóc
với anh rằng đáng lý ra ông ta đã không chết nếu như thằng bạn khốn kiếp đã
không nghĩ ra mưu kế hại ông để đoạt chỗ kỳ nam mà cả hai đã may mắn trúng đậm
trong chuyến đi.
Ông ta kể cho anh nghe rằng chuyến đó chỗ kỳ
nam họ đào được ít nhất cũng 10kg, và cái viễn cảnh từ nay sẽ giàu lên khiến
cho ông quên hết sự thận trọng. Trên đường về, ông để gã bạn mang giữ số kỳ nam
còn mình thì mang đồ nghề.
Gã
bạn rừng không giết ông nhưng hắn cực kỳ nham hiểm. Khi phải vượt qua con suối
đang gặp lũ nước chảy xiết, hắn xui ông vượt trước. Hắn khôn khéo dỗ dành ông
rằng, ông không mang hàng, nhẹ nhõm, ông thử bơi xem nước có chảy xiết không,
nếu chảy xiết quá thì nên vứt hết đồ nghề bơi tiếp cho nhẹ hoặc quay lại, có gì
nguy hiểm thì hắn sẽ bơi ra cứu, vì hắn bơi giỏi hơn ông. Còn như an toàn thì cứ
qua đến bờ bên kia ngồi đợi hắn, hắn sẽ bơi vượt suối sau ông, vì hắn có trách
nhiệm bảo vệ chỗ kỳ nam nặng hàng chục ký.
Ông
ta thấy nước chảy mạnh quá bảo hay là chờ qua đợt lũ đã về. Kiếm tạm rau nấm
trong rừng ăn đỡ. Hắn bảo rằng đã trúng quả thì lo mà về cho vợ con mừng. Ở lại
trong rừng có khi băn gkha1c bắt gặp cướp mất. Hắn còn kích ông bằng những lời
tàn tệ. Thế là ông ta không đắn đo gì nữa mà cứ nhằm con nước tuôn đổ ầm ầm lao
xuống. Mới vừa bơi được hai ba sải tay
ông đã bị nước cuốn phăng phăng, ông gào lên kêu cứu nhưng kẻ kia cứ giả lơ.
Hắn chờ cho đến khi biết chắc ông chết đuối giữa thác lũ thì mới lặng lẽ tìm
đường khác xa hơn nhưng an toàn hơn về nhà. Sau khi dặn dò vợ con không được hé
lộ mình trúng kỳ nam, hắn đến nhà người xấu số báo hung tin, sau đó ra trình
báo mọi việc với công an. Chẳng ai ngờ vực hắn.
Từ
đó một mình hắn hưởng toàn bộ số kỳ nam mà hai người tìm được.
*
Anh
họ tôi hoang mang nhưng không biết chính xác điều mình nghe thấy trong đêm là
sự thật hay mộng mị. anh kể hết với những người bạn rừng trẻ cùng đi trong
chuyến đó. Ai cũng bảo rằng chính họ cũng một vài lần nghe ông ta khóc lóc,
than van đâu đó bên tai, nhưng nghĩ là ảo giác. Họ đâm sợ và rủ nhau bỏ nghề.
Tất
cả những người này đều còn trẻ, sung sức nên chẳng bao lâu họ kéo vào thành phố
kiếm công việc an toàn hơn.
Một thời gian sau anh họ tôi không tìm ra
hướng làm ăn đành bán nhà và đưa cả gia đình vào thành phố lập nghiệp. Anh
khóc: ăn của rừng rưng rưng nước mắt.
Lúc
nào anh cũng nhớ người bạn hiền. Anh cứ mơ ước được gặp may, giàu lên, anh sẽ
giúp đỡ vợ con người bạn. Thế nhưng đến giờ nhà anh vẫn còn nghèo lắm.
LÊ THU THÙY
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét